NHẤT TỰ VI SƯ - BÁN TỰ VI SƯ TRONG HỌC VĂN VÀ HỌC VƠ

 

Vốn tôn sư trọng đạo, người Việt dùng "nhất tự vi sư, bán tự vi sư" với ư: "(ai dạy ḿnh) một chữ là thầy (của ḿnh) - nửa chữ (cũng) là thầy"; lại có người bảo: "(dạy ai) một (hoặc nửa) chữ là thầy (của người đó)" nhưng có lẽ hàm ư câu này sâu sắc, khiêm tốn hơn.

"Tự" là "chữ" nhưng "chữ" ở tiếng Việt cũng khá nhiều nghĩa:

- Đơn vị kư hiệu trong một hệ thống chữ viết

- Hệ thống kư hiệu bằng đường nét để ghi tiếng. 

- Kiến thức văn hóa (muốn con hay chữ..)

- Lối viết (viết đẹp, chữ gà bới..)

- Lời xưa truyền lại (có chữ rằng..)

- Nội dung một khái niệm, một đề tài đạo đức,  tâm lư...xác định (chữ t́nh, hiếu, trung...)

- Tên thường gọi của âm tiết (câu thơ bốn chữ..)

"Chữ" c̣n là tên gọi của "từ- đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có ư nghĩa hoàn chỉnh"; "một chữ" có thể giao tiếp nhưng "nửa chữ" th́ khó, nói “nửa chữ là thầy” là chưa rơ nghĩa. Trong "nhất tự vi sư...", ngoài "nhất - một", "sư - người thầy" và "tự - chữ", các “âm” khác đều có thể hiểu với ư khác nhau, đặc biệt là "vi". Ba trong mười chữ "vi" ở Hán ngữ đều ghép được với "sư" ("vi - làm ", "vi - lỗi”, "vi - nơi thi") làm cho hàm ư "nhất tự vi sư..." càng phong phú; mỗi nghĩa của tiếng "vi" sẽ phù hợp cho mỗi hoàn cảnh. V́ vậy, ngoài cách hiểu thông thường ở trên, người nghe c̣n có thể hiểu:

- (Qua) một chữ (cũng) làm (tăng uy tín của) thầy;

- (Qua) một chữ (cũng) làm (giảm uy tín của) thầy;

- Một chữ (của tṛ viết tốt) cũng có công của thầy;

- Một chữ (của tṛ viết sai) cũng có lỗi của thầy;

- Một chữ cũng là nơi (học tṛ của) các thầy thi thố ;

- Một chữ cũng là nơi thể hiện tài đức của thầy...

Tự điển Hán - Việt đầu tiên của người Việt (Tam thiên tự) giới thiệu sáu chữ "vi" nhưng không có "vi" với nghĩa "là", chỉ có một chữ "vi - làm"; Ngũ thiên tự (Hán -Việt - Pháp) sau này cũng đă dịch nghĩa tiếng Pháp của chữ "vi" này là "fair" (làm, làm ra, làm nên, tạo ra, thành ra - người Anh cũng dùng “make” mà không dùng “do”, “product” hay “become”). Có lẽ ưa nói gọn ("làm ra" thành "làm") nên "làm ra thầy" đă rút gọn thành "làm thầy", lại do gần âm giữa "làm" với "là" nên "là" được dùng thay "làm" và cuối cùng "làm thầy" trở thành "là thầy".

Người Việt vẫn dùng "là" thay "làm" (làm anh phải nhường em = là anh phải nhường em); có khi cách này cũng không dễ hiểu mấy (như "làm cho nên người là điều khó" có thể nói ngắn là "làm người khó", nhưng nói "là người khó" th́ sai ư).

Nếu nói "tự vi sư" một cách thuần Việt (chữ làm ra thầy) hoặc kèm bản chữ Hán để vừa nghe âm Hán Việt vừa nh́n chữ để t́m nghĩa th́ không ǵ để bàn; nhưng chữ mà cụ thể như vậy th́ nghĩa bị giới hạn và mất sự hàm súc của tiếng. Ngoài ra, dùng "nhất tự vi sư" với ư "(dạy ai) một chữ là thầy (người ta)" cũng nên ngẫm lại; dạy học được coi là "cao quư nhất trong những nghề cao quư" nhưng nếu động cơ nào đó mà hoạt động dạy lại trái đạo, phạm pháp... th́ càng dạy càng sai. Dạy một chữ sai th́ nửa chữ cũng sai; có đưa chân lư ra đọc cho tṛ ghi th́ vẫn chưa đạt yêu cầu - bởi người dạy không là cái máy phát lại cuốn băng ghi âm mà là người tổ chức và điều khiển hoạt động học tập qua những cách dạy phù hợp. Nắm vững nội dung nhưng phương pháp vụng th́ hiệu quả vẫn thấp, có khi "lợn lành thành lợn què", gây hậu quả xấu cho xă hội. Vậy kiến thức tốt và cách dạy khéo sẽ tạo ra người thầy giỏi ? Đúng vậy, nhưng...chưa đủ - bởi nhà giáo c̣n phải sống với người, với nghề, với đời bằng cái tâm cao quư.

Làm người rất khó (vi nhơn nan), làm thầy càng khó v́ xă hội không chỉ giao cho nhà giáo việc dạy chữ, dạy nghề mà c̣n cả trọng trách - có nơi gọi là thiên chức - dạy người. Do đó, nói "...tự vi sư" với đồng nghiệp chỉ để nhấn mạnh vai tṛ "chữ" trong việc tạo sự chính danh ở thầy, để giáo giới nhắc nhau rằng người học và xă hội tôn vinh người dạy đến mức nào là do kiến thức và cách thức giáo dục của thầy. Mặt khác, mỗi nhà giáo nói "tự vi sư" là để dặn ḷng đừng thỏa măn với danh hiệu xă hội trao tặng mà luôn nghiền ngẫm nội dung, cải tiến phương pháp để nâng hiệu quả dạy học và giáo dục.

 Người Việt coi “chữ” là “lối viết” và xét lối viết là một trong những cách nhận xét con người. Lối viết có thể cho nhiều thông tin về người đă (hoặc đang viết); đâu chỉ có thầy xét lối viết để đánh giá tṛ mà thế gian cũng có thể xét thầy qua lối viết. Trong văn hóa chữ viết ở Trung quốc, lối viết là một trong những yếu tố thư pháp, chữ viết là một trong các yếu tố của thư họa. Một bậc thầy chấp bút, dù nửa chữ, người ta cũng nhận ra. Người Việt Nam có câu:

 Văn hay chẳng cần đọc dài

Mới đọc nửa bài cũng biết văn hay

Chữ c̣n là quan điểm, thái độ; tính cách, mục đích.. thường thể hiện khi chọn chữ - chuyện Tào Tháo chọn chữ "gân gà" làm mật khẩu cũng nói lên điều này. Chọn chữ nào th́ "ước mơ, hoài băo" sẽ thể hiện qua chữ đó; nhất là khi lập câu đối.

 Tổng đốc Nguyễn Công Trứ là người "xuống đông đông tĩnh lên đoài đoài yên"- vốn coi nhẹ sự "được", "mất" ở quan trường; khi hưu hạ, có lần thấy vế đối trước cổng chùa: "Thuộc ba mươi sáu đường kinh, thông thiên địa thánh thần, song khác tục. Hiểu sư trú tŕ ở đây là người thông tuệ nhưng hơi kiêu, cụ Nguyễn hỏi thêm và biết sư xuất đối đă lâu nhưng chưa ai đối được; cụ bèn đối: "Hay tám vạn tư mặc kệ, chẳng quân thần phụ tử đếch ra người". Ghép lại sẽ có cặp đối như sau:

- THUỘC 36 ĐƯỜNG KINH KHÔNG THIÊN ĐỊA THÁNH THẦN, SONG KHÁC TỤC,

- HAY TÁM VẠN TƯ MẶC KỆ CHẲNG QUÂN THẦN PHỤ TỬ, ĐẾCH RA NGƯỜI.

Không dám lạm bàn về nghĩa lư cặp đối, chỉ xin lưu ư một chữ mà vị quan tài hoa đă dùng - đó là chữ "đếch'. Chữ này (và chũ "chẳng" trước đó) đă nói lên nhân sinh quan và cá tính ngang tàng của tổng đốc Nguyễn Công Trứ.

Lại xét phía nhận chữ, nếu trọng lễ, đă quyết nhận chữ sẽ coi người trao chữ là thầy. Nói "quyết" là thể hiện sự chủ động t́m thầy (tầm sư học đạo) dù học một chữ - nguồn kiến thức, kỹ năng, thái độ, giải pháp, hoài băo... về một vấn đề. Nhận, hiểu và sống theo mươi chữ đă là nhiều (với  môn đồ Khổng giáo, số chữ cần làm theo trong đời c̣n ít hơn số thầy mỗi học sinh thời nay được gặp từ mầm non đến đại học); có người suốt đời làm theo một chữ (như vua Tự Đức cho ḿnh luôn học và sống theo chữ "khiêm").

Ngoài ra, quan hệ trao chữ và nhận chữ không chỉ ở trường lớp; đời thường, khi t́m cách vượt khó, nếu được nhận "một chữ" phù hợp th́ có thể nảy sinh giải pháp; thậm chí ư tưởng về giải pháp có khi ẩn tàng ở tiềm thức mỗi người nhưng chưa thành sáng kiến v́ chưa gặp chữ phù hợp; một chữ lúc này giá trị như phương pháp, con đường (đạo). Thời Tam Quốc, chữ "hỏa" làm nên trận Xích Bích; thời Pháp thuộc ở Việt, đường lối "bất biến" Bác Hồ trao cụ Huỳnh trước khi Bác sang Pháp đă giúp cụ ổn định t́nh h́nh "vạn biến" ở quốc nội... chữ và người như vậy sẽ tạo nên nghiệp lớn dù quan hệ hai bên chưa là thầy tṛ nhưng người nhận vẫn coi người trao là thầy. Ở đây, “thầy” không theo nghĩa giáo viên như hiện nay mà cao trọng hơn - cả khi người nhận chưa trực tiếp gặp tác giả (như lúc Nguyễn Ái Quốc nhận tư tưởng Lênin về “giải phóng dân tộc”). Yếu tố nhấn mạnh ở đây là "chữ" chứ không chỉ là "thầy"; có "chữ ra chữ" tất sẽ tạo quan hệ thầy tṛ dù nguồn phát thông tin không là ngôn ngữ nói, dù người trao không làm nghề dạy học, dù nơi nhận chữ là chốn trường đời.

Nhà Toán học Pháp A - ra - gô (1786 - 1853) thừa nhân: "Thầy giáo thực sự của tôi là một tờ b́a sách, ở đó tôi đọc được lời khuyên: Hăy tiến lên phía trước, rồi bạn sẽ có niềm tin !".

Tại sao nhận "nửa chữ - bán tự” vẫn coi người trao như thầy ? Chữ ở đây là chữ Hán, loại văn tự biểu ư, dùng “nét” để biểu thị ngữ tố đơn âm tiết; “nét” tạo ra bộ thủ, mỗi “bộ” có nghĩa riêng và “bộ” là đơn vị để tạo thành "chữ gốc"; nhiều chữ gốc mang ư nghĩa như "tri thức, quan niệm về một đề tài" - rất nhiều chữ Hán do ghép các chữ gốc (bộ) lại mà thành. Hăy xét một chữ rất gần với nhà giáo là chữ "giáo", một trong các chữ gốc đă tạo ra chữ này là chữ "văn"; để giúp học sinh tiếp thu chữ "giáo" th́ người thầy thường dạy chữ "văn", chữ "hiếu" trước ...Khi dạy chữ văn - cơ sở của giáo - nếu suy lư thông thường th́ người thầy mới chỉ trao một phần chữ "giáo" nhưng thực tế cho thấy những người thầy tận tâm và uyên bác sẽ tùy người học để trao cho họ một khối lượng không nhỏ trong vốn liếng của thầy về đề tài "văn". Bấy giờ nếu người học v́ lư do nào đó mà phải xa thầy cũng không dám trộm nghĩ là thầy chưa trao trọn chữ "giáo", vẫn quư trọng thầy v́ biết ḿnh đă nhận thêm một trong những điều kiện làm người. Thật vậy, "văn" cũng như một số chữ khác như "nhân", "nghĩa", "trí", "dũng", "liêm"... đều thuộc loại chữ mà "nếu ai không nhớ sẽ không lớn nổi thành người" - nhận nửa chữ như thế th́ t́nh nghĩa thầy tṛ càng thêm sâu nặng.

Có khi chữ nghĩa ẩn tàng dưới hành vi, thái độ của người thầy mà người học phải tinh tế lắm mới nhận ra được. Khi cậu Nguyễn Sinh Cung, con quan thừa biện bộ Lễ, Nguyễn Sinh Sắc, vào thăm thầy là cụ Hoàng Thông (tác giả "Tự trị thượng sách) bị giam tại lao Thừa Phủ; thấy thầy quá tiều tụy về thể xác nên anh Cung đă khóc. Thầy quắt mắt nói: "Là học tṛ có thầy như ta đă không tự hào th́ thôi, sao lại khóc ? Hăy để nước mắt mà khóc cho dân cho nước !"; hiểu ư, anh lau nước mắt và vái tạm biệt thầy trước ngạc nhiên của lính gác. Sau đó anh vào Nam, bắt đầu hành tŕnh t́m đường cứu nước. Chỉ có người học như vậy mới hiểu được người dạy như thế và cũng chỉ những bậc thầy như thế mới có sự ứng xử sư phạm tuyệt vời dù đang ở chốn lao lung.

Hiểu "chữ làm nên uy tín của thầy" nên  có môn đồ đă sửa chữ của thầy để bảo vệ và phát triển uy tín cho thầy. Tổng đốc Đào Tấn - thượng thư bộ Công - một trong những bậc thầy về tuồng, ông học nghề  với cụ tú Nguyễn Văn Diêu; cụ tú soạn được nhiều tuồng hay trong đó có vở Ngũ Hổ B́nh Tây. Theo kịch bản, có một lớp tuồng được diễn ra ở doanh trại duy nhất một cửa ải, vị tướng ở đây bảo mở cửa cho nhân vật vào rồi lệnh "đóng cửa"; sau khi tṛ chuyện th́ người khách ra đi. Đào Tấn đọc lời thoại và phát hiện chi tiết chưa hợp lư - khách đi ra khi chưa có lệnh "mở cửa" ?! Ông định t́m thầy để thầy điều chỉnh kịch bản nhưng nghe tin cụ tú đă mất. Ông Đào băn khoăn v́ tác phẩm của thầy chưa hoàn thiện, không sửa th́ như viên ngọc có vết nhưng tự ư chữa th́ thất lễ với thầy. Cuối cùng ông đă mang lễ vật đến trước mộ thầy để khấn xin được bổ sung kịch bản và hậu thế đă có vở Ngũ Hỗ B́nh Tây như hiện nay; việc tṛ sửa chữ của thầy đă giúp sự nghiệp của thầy tốt đẹp hơn. 

                                                                          ***

Trong vơ thuật, vấn đề "nhất tự vi sư, bán tự vi sư" thể hiện khá rơ, nhất là khi dạy bài quyền.

Hầu hết các vơ phái đều có bài quyền - hệ thống đ̣n, thế và các yếu tố vơ thuật (như tấn pháp, nhăn pháp...) đặc trưng của vơ phái. Bài quyền bậc cao không chỉ quy định cách thức hô hấp (hít, nín, thở) mà c̣n giúp người tập h́nh dung đường đi của khí trong thân thể  tương ứng với thời điểm thực hiện từng động tác đi quyền. Giữa chiêu thế, hô hấp, tưởng tượng (h́nh, khí, ư) phải thống nhất, sai một yếu tố sẽ hại đến thể chất, tâm lư và thần kinh; một yêu cầu đi quyền là chuyển bước chân theo đồ h́nh - hệ thống đường nét  của một chữ nào đó trong tiếng Hán.

Các môn vơ của Trung, Triều, Nhật, Việt... đều có đồ h́nh bài quyền theo chữ Hán, chi phái Thiếu lâm Tung sơn (Vạn tự) cũng vậy. Môn sinh phái này sau 10 năm có thể được tập 8 bài quyền và nếu đạt đẳng hiệu huấn luyện viên sẽ được truyền bài  thứ 9 - "Khí lực quyền". Bài này đi theo đồ h́nh chữ "nhẫn" (chữ "nhẫn" h́nh thành bởi chữ "tâm" và bộ "đao") với hai lộ quyền (Lộ nhất đi theo đồ h́nh chữ "tâm" để luyện khí và lộ nhị - đồ h́nh bộ "đao" - luyện lực). Nào phải ai qua 10 năm đều được học "Khí lực quyền" - nhận chữ nhẫn - mà chỉ những môn sinh đạt 2 tiêu chuẩn:  vừa b́nh ḥa về khí vưà sung măn về lực; các môn sinh chỉ đạt 1 chuẩn (như đắc khí hoặc sung lực) vẫn chưa được tập trọn bài (một chữ - nhất tự) v́ những vị này nếu tập trọn bài có thể sinh bệnh - do "khí" và "lực" chưa cân đối. Do đó, thầy xét tư chất môn sinh để truyền "nửa chữ nhẫn" (thuộc chữ "tâm") hoặc "nửa chữ nhẫn" (thuộc chữ "đao"); sung lực mà non khí th́ đưọc truyền các thức theo đồ h́nh chữ "tâm" để định ư và ích khí; khí b́nh mà sức chưa bền th́ được nhận các thế theo đồ h́nh bộ "đao" để tăng sức mạnh cho cân cốt. Nhiều cao đồ đă có đẳng hiệu vơ sư nhưng chỉ được thầy truyền nửa bài quyền; vấn đề là các vị ấy vẫn tự hào v́ được học "nửa chữ". Nhận nửa bài nhưng họ chuyên luyện, không ṭ ṃ t́m hỏi hay học lén phần "nửa chữ" chưa được dạy. Đấy không là việc giữ lễ thầy tṛ hay chấp hành môn quy mà là giữ an toàn bản thân - lén tập trước phần quyền thầy chưa dạy sẽ sinh bệnh do tập sai, nhất là sai cách thở, vận khí, chuyển ư (phần này do thầy truyền từng người, mỗi người được dạy khác nhau - cá biệt hóa hoạt động dạy học). Nhiều vơ phái cấm “học trước” bài thầy chưa dạy, phạm điều này sẽ bị thôi học. Thời nay, hầu hết bài quyền được giản hóa, tập trước cũng chẳng hại mấy nhưng các vơ phái vẫn coi học lén là một trong các điều vô đạo. Phía người đă được nhận trọn bài cũng không tập cùng một yêu cầu bởi thầy xét căn cơ mỗi người, giúp họ chuyên luyện nhiều hơn vào lộ nhất hoặc lộ nhị để phát triển những tố chất mà thầy muốn tăng lên ở họ. Thầy c̣n xét yếu tố "nam, phụ, lăo, ấu"; lao động trí óc hay tay chân để có lời khuyên về thời điểm (when), địa điểm (where) luyện quyền, giúp tṛ dễ nhận các tác động có lợi từ môi trường tự nhiên cho công phu sớm thành. Do dạy quyền như vậy nên người vơ sư rất tổn hao tâm lực; thầy không chỉ dạy nét viết, lối viết tên bài quyền, ư nghĩa của nó trong lối sống, lẽ sống mà c̣n dạy ứng dụng đ̣n thế và bộ pháp trong chiến đấu với một người, với nhiều người. Thật ra, những việc ấy thầy đă thực hiện gián tiếp từ khi vơ sinh nhập môn cho đến ngày "thành nhơn" - ngày ấy, thầy mời đến, trực tiếp dạy từng chiêu thế, truyền nội dung kiến thức, kỹ năng, thái độ, khái niệm đạo đức, tinh thần về đề tài “khí”, “lực” mà thầy đă nghiền ngẫm. Dạy và học như vậy nên dù thầy trao "nửa chữ" th́ môn sinh cũng nhận được sở học của thầy về “nửa chữ đó” trong vơ trường và trong đời thường. Một số biểu hiện "nhất tự", "bán tự" khi dạy quyền của làng vơ Trung Quốc là vậy c̣n ở vơ Việt th́ sao ?

Bài "Thập tự quyền" của vơ Việt (VoViNam - Việt Vơ Đạo) lập từ 10 thế chiến lược - mỗi thế từ 2 đến 6 đ̣n (đỡ, phản công và tấn công...), toàn bài có 64 động tác; đồ h́nh khi diễn quyền là chữ thập (+). Do đó, thầy dạy “một chũ” (thập) nhưng thực chất là dạy 64 động tác chiến đấu. Số 64 động tác này là di sản của vơ sư sáng tổ - là "phần cứng" - nhưng dạy và học chữ “thập” này không chỉ trong 64 động tác ! Tùy công phu của thầy mà số động tác là 64, “64 ´ 2” hay “642” hay “6464”. Đến nay, chưa môn sinh nào cho là đă hiểu bài quyền này một cách thấu đáo; nhiều vơ sư thuộc bài này như cháo nhưng cũng tự nhận là nhiều lắm chỉ mới hiểu được "nửa chữ"; có những môn sinh được đồng môn quư trọng nhờ tài sử dụng vài nét nào đó trong chữ thập này thôi.

        Diễn quyền, dù đi trọn bài (nhất tự) hay nửa bài (bán tự) đều để lộ công phu của người học và thể hiện tŕnh độ của người dạy. Tương tự, khi giao đấu, tṛ dùng một đ̣n khéo sẽ tăng uy tín của thầy, ra một đ̣n vụng cũng có lỗi của thầy (chữ “vi”: lỗi lầm). Do đó, vơ đài không chỉ là nơi thi thố của thí sinh (chữ “vi”: nơi thí sinh làm bài thi) mà c̣n là nơi so tài của các thầy (nh́n tṛ biết thầy).

          Dạy vơ, dùng vơ sai nét sẽ giảm hiệu quả, nhưng để ra đ̣n có nét th́ vơ sinh phải chú tâm học hành - việc “hành” trong “vơ” là chuyện sống chết trực tiếp và tức thời. Thi văn, "viết sai nét" có thể trượt nhưng vẫn sống, lành lặn và có cơ hội thi lần sau; trong đấu vơ, nếu đánh sai nét có thể hết thi lại, nhẹ nhất cũng chịu nhận một hoặc vài đ̣n - đau thể xác, hại đến danh dự của ḿnh và cả của thầy. Chiêu "ô nga triển dực" (ngỗng đen đập cánh) là một ví dụ; nghĩa của "triển dực" là "đánh chỏ" nhưng không đánh tùy tiện mà phải "vươn thân, đánh ṿng vào mặt của địch". Người xưa chọn h́nh ảnh ngỗng đập cánh v́ gia cầm này luôn “rướn cao và bước tới khi đập cánh” để nhắc động tác “bước tới” mỗi khi đánh chỏ vào. Tuy vậy, người dùng chiêu này mà chỉ nghĩ đến chỏ vẫn mắc lỗi "thiếu nét" - bởi c̣n một động tác không ở trên chỏ mà ở dưới...chân ! Cụ thể, khi đánh chỏ (phải) vào mặt đối thủ th́ phải nhập nội và cài chân (phải) sau chân (trái) đối phương. Khi đánh đúng nét th́ địch ngă đập gáy xuống đất - chứ không văng ra; vơ Việt gọi cú này là "triệt" cũng rất gợi h́nh bởi "triệt" nói lên sự "té, ngă" - "triển" và "triệt" gần về âm và nói "triệt" cũng rơ nghĩa hơn. Dùng "ô nga triển dực" mà không cài chân địch là đánh chưa có nét - cũng như viết thiếu nét - nhưng cái giá phải trả cho lỗi “thiếu nét” ở đây là rất tai hại v́ khi địch chưa bị cài chân th́ họ có thể lùi hoặc rùn chân hụp xuống để...phản đ̣n !.

          Dù vậy, trường văn hay trận vơ, ngoài "thuật" c̣n có "đạo" và cả hai đều thuộc về phương pháp. Từ phía cá nhân mà xét th́ vơ thuật là cách thức phù hợp cho t́nh huống phải giao đấu với một hoặc nhiều đối thủ để "tự cứu" c̣n vơ đạo mới là phương pháp của giai đoạn âm thầm “tự chiến đấu” để "tự thắng" - thắng “ham muốn ganh đua”, thắng “hả hê chiến thắng”, thắng “nản ḷng thất bại”...; ở giai đoạn này, số lượng đối thủ nhiều gấp muôn vạn lần so với trước, nó không là con người cụ thể mà là những tư tưởng, những ư niệm.

Luyện bản lĩnh tự thắng cho môn sinh, v́ vậy, không chỉ qua chiêu thức đơn luyện, qua các bài bản đối luyện, qua các trận đấu tự do...mà c̣n qua nguồn thông tin về đạo lư thể hiện dưới dạng "chữ" như môn quy, tâm niệm, lời thề và đặc biệt là qua lối sống giữa các thế hệ vơ sư, huynh, đệ, tỷ, muội trong môn phái.

                                                                     ***

         Hoạt động dạy suy cho cùng là giúp người học phát triển tri thức, kỹ năng để có thể tự giáo dục, tự thắng. Nếu "chữ" bên văn là "hệ thống đường nét để ghi tiếng nói của một cộng đồng" th́ bên vơ xem "chữ" là "thế - là hệ thống động tác để ghi cách dùng vơ của một vơ phái"; nếu "từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có ư nghĩa thông tin hoàn chỉnh" th́ "chiêu là số lượng động tác gọn nhất có ư nghĩa chiến đấu hoàn chỉnh"; nếu "nét, h́nh, chữ, từ, câu, đoạn...là sự phát triển của tín hiệu ngôn ngữ" th́ "đ̣n, thế, chiêu, bài...là sự phát triển của kỹ thuật chiến đấu".

Dù nho, y, lư, số; dù cưỡi ngựa, đấu vật, đánh kiếm, bắn cung; dù cầm, kỳ, thi, họa; dù văn hay vơ đều là tri thức giúp người học nâng tầm văn hóa để tự chọn con đường làm người cho phù hợp. Tùy tŕnh độ người học văn mà "chữ" thầy trao có thể là “chữ, câu, bài,...” và cũng tùy công phu người học vơ mà "chữ" có thể là “đ̣n, thế, bài...”. Người dạy, ít ai bê nguyên "nhất tự" hay "nhất thế" trao người học; thầy căn cứ mục đích, đối tượng, hoàn cảnh...để xây dựng nội dung, lựa chọn biện pháp giảng truyền phù hợp - chuỗi công việc này luôn là sự lao tâm khổ tứ của những nhà giáo tận tâm.

Yêu cầu của giáo dục không chỉ bảo đảm khối lượng “một” hay “một nửa”  mà cả chất lượng chữ nghĩa, nhất là khi kiến thức càng tăng; để "học ra học" phải có "chữ ra chữ" và biết "dạy ra dạy". Người dạy càng tự thắng để chính danh th́ xă hội càng nhiều "thầy ra thầy" xuất nửa chữ cũng làm tăng hiệu quả giáo dục; người học nhập nửa chữ cũng giữ măi ḷng thọ ân người trao và “nhất tự vi sư, bán tự vi sư" là biểu hiện của sự qúy trọng từ phía người học, gia đ́nh và xă hội dành cho những người trao chữ như vậy.