T̀M HIỂU MỨC ĐỘ
NHẬN THỨC
CỦA HỌC SINH LỚP 11 - TRƯỜNG
DÂN LẬP THANH B̀NH
VỀ MỘT SỐ GIÁ
TRỊ ĐẠO ĐỨC
Ngày nay với sự phát triển
vượt bậc về khoa học kỹ thuật và công
nghệ trên thế giới, đ̣i hỏi thế hệ
trẻ phải ra sức học tập để bắt
kịp với sự phát triển đó. Ở nước
ta, trong thời ḱ mở
cửa th́ thế hệ trẻ cũng không ngừng
tiếp thu, học hỏi và hoà nhịp cùng sự phát
triển chung của thế giới. Nhưng cứ không
ngừng say mê nâng cao tŕnh độ của ḿnh mà lại xao
nhăng đi giá trị đạo đức, những
chuẩn mực của xă hội th́ điều đó
thật đáng báo động.
Sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế thị trường,
một mặt giúp cho giới trẻ tự trau dồi
một nguồn tri thức vô tận thông qua sách báo, phim
ảnh, internet…mặt khác nó cũng để lại
những tác động tiêu cực, nguy hiểm cho
người đọc, người xem. Đối với
học sinh nhất là ở lứa tuổi học sinh THPT
th́ sự tác động ấy không hề nhỏ chút nào. V́
vậy việc tăng cường giáo dục đạo
đức cho học sinh song song với quá tŕnh rèn luyện
kiến thức văn hóa trở nên bức thiết hơn
bao giờ hết.
Nhận thức
được vấn đề đó, chúng tôi tiến hành
khảo sát trên 300 học sinh lớp 11- trường DL Thanh
B́nh, t́m hiểu mức độ nhận thức của
học sinh về các giá trị đạo đức,
để từ đó có thể đưa ra những
phương pháp nhằm giáo dục đạo đức
cho học sinh một cách tốt nhất, hiệu quả
nhất.
Bảng 1:
Các giá trị đạo
đức của học sinh lớp 11 trường DL Thanh
B́nh
xét trên toàn mẫu
|
Giá trị |
Tiêu chí |
Số ư kiến |
% |
|
Ngay thẳng là |
a. Dám nói ra những suy
nghĩ của ḿnh mà không sợ mất ḷng. b. Có ư kiến khi cảm
thấy bất b́nh hay đồng t́nh. c. Nói đúng sự thật,
biết đấu tranh tới cùng chống sự sai trái. d. Biết nhận lỗi,
không bào chữa quanh co. |
123 34 94 46 |
41 11 32 16 |
|
Ân cần là |
a. Tận tâm giúp đỡ
người khác một cách chu đáo. b. Quan tâm, chăm sóc
người khác khi họ gặp khó khăn. c. Biết làm cho người
khác vui vẻ. d. Luôn dịu
dàng, sẵn sàng giúp đỡ mọi người không
cần phân biệt giàu nghèo, địa vị xă hội
cao hay thấp. |
48 53 19 177 |
16 18 6 60 |
|
Chân thành là |
a. Sống thành thật với bản thân. b. Luôn giúp đỡ
người khác xuất phát từ tấm ḷng. c. Không nói dối, trung
thực, thật thà. d. Luôn làm như điều
ḿnh nghĩ. |
87 123 57 30 |
29 41 19 11 |
|
Người có
tinh thần trách nhiệm là |
a. Luôn cố gắng hoàn thành
tốt công việc được giao. b. Dám làm dám chịu. c. Nhiệt t́nh trong công tác. d. Biết tính toán sao cho công
việc được hoàn thành tốt. |
146 72 16 63 |
49 24 6 21 |
|
Tôn trọng
người khác là |
a. Biết lắng nghe ư
kiến của người khác. b. Không nói xấu
người khác. c. Không xem thường
người khác. d. Biết chấp nhận ư
kiến đúng của người khác cho dù họ có quan điểm
trái ngược với ḿnh |
104 15 51 127 |
35 5 17 43 |
|
Người biết
quan tâm tới người khác là người |
a. Biết hỏi thăm
người khác khi thấy họ có chuyện buồn hay
khó khăn. b. Biết chia sẻ niềm
vui, nỗi buồn. c. Biết giúp đỡ
người khác tận t́nh. d. Biết khuyên người
khác làm điều tốt. |
131 116 23 27 |
43 40 8 9 |
|
Người sống
trong hài hoà là người |
a. Sống hoà hợp,
được mọi người yêu mến. b. Không gây gổ với
người khác. c. Biết đặt niềm
vui, nỗi buồn đúng lúc, đúng nơi. d. Có cái nh́n cuộc sống lạc
quan. |
87 22 14 174 |
29 7 5 59 |
|
Người thân
mật là người |
a. Ta có thể tâm sự hay
bày tỏ suy nghĩ của ḿnh. b. Luôn vui vẻ, cởi
mở trong giao tiếp. c. Nhiệt t́nh, giàu t́nh
cảm. d. Dễ gần gũi, gây
được thiện cảm với người khác. |
179 43 14 61 |
60 14 5 21 |
|
Khoan dung là |
a. Sẵn sàng tha thứ cho
lỗi lầm của người khác nếu thấy
cần thiết. b. Tôn trọng lối
sống và văn hóa của người khác mặc dù không
đồng t́nh với họ. c. Hiểu người khác
từ đó biết chấp nhận những tính cách trái
ngược của người khác. d.
Lễ phép, đối xử với người khác
một cách chân t́nh. |
225 21 39 12 |
76 7 13 4 |
|
Người
sẵn sàng tiếp thu cái mới là người |
a. Luôn t́m ṭi, học hỏi
những điều mới mẻ. b. Luôn lắng nghe ư kiến,
kinh nghiệm của người khác. c. Sẵn sàng thay đổi,
nghe ư kiến của người khác nếu thấy
hợp lư. d. Sẵn sàng cởi mở,
tạo ra cơ hội và khả năng mới. |
95 91 82 29 |
32 31 28 9 |
|
Người tuân
thủ kỷ luật là người |
a. Tự giác tuân theo những
quy định, quy tắc tập thể. b. Luôn giữ trật tự,
kỷ cương trong công việc. c. Tôn trọng nề nếp
sinh hoạt. d. Có khả năng kiềm
chế hành vi không lành mạnh. |
192 32 36 37 |
65 11 12 12 |
|
Đoàn kết
là |
a. Không bao giờ nói xấu
người khác. b. Không bao giờ kéo bè phái
trong nhóm. c. Chăm sóc người khác
bằng các h́nh thức khác nhau. d. Chia sẻ, giúp đỡ
mọi người khi cần thiết. |
31 43 30 193 |
11 14 10 65 |
Bảng 2:
Các chuẩn mực xă hội
|
Giá trị
đạo đức |
Tiêu chí |
|
Ngay thẳng |
-
Bảo vệ sự thật, thật thà trong lời
nói việc làm, chống lại sự giả dối |
|
Ân cần |
-
Có ḷng tốt, có nhân cách đối xử với con
người, biết quan tâm chăm sóc người khác. |
|
Chân thành |
-
Thành thật trong lời nói, việc làm; không có những
hành động bất lương, đạo đức
giả. |
|
Tinh thần trách
nhiệm |
-
Chấp hành những đ̣i hỏi và thực hiện
nhiệm vụ với khả năng tốt nhất của
ḿnh, biết tính toán trong khi hoàn thành tốt nhiệm vụ,
rèn luyện; luôn chân thực với mục tiêu của công
việc, những nhiệm vụ được tiến
hành với sự lương thiện và ư thức về
mục đích. |
|
Tôn trọng
người khác |
-
Tôn trọng bản thân sẽ dễ dàng tôn trọng
người khác, không làm người khác đau khổ; tôn
trọng và chấp nhận ư kiến của người
khác; tôn trọng tính tự trị và và tính độc lập
của người khác. |
|
Quan tâm tới
người khác |
-
Có tấm ḷng rộng răi, hiểu biết và tôn trọng
người khác; có xúc cảm, hành vi cụ thể giúp đỡ
mọi người; tránh không làm người khác buồn
khổ; kiềm chế khi xung đột. |
|
Sống trong hài
hoà |
-
Khoan dung và hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng và
quan tâm tới người khác, giúp đỡ người
khác khi cần thiết. |
|
Thân mật |
-
Biểu thị sự nồng nhiệt bằng sự
vui vẻ và nụ cười; chào đón mọi người
bằng nhiệt t́nh và thiện cảm. |
|
Khoan dung |
-
Tôn trọng lẫn nhau thông qua sự hiểu biết
lẫn nhau; là sự cởi mở và chấp nhận vẻ
đẹp của những sự khác biệt; chấp nhận
cá tính và sự đa dạng của con người là khả
năng đương đầu với mọi hoàn cảnh
khó khăn. |
|
Sẵn sàng
tiếp thu cái mới |
-
Tôn trọng ư kiến của người khác; chấp
nhận thực tế và kinh nghiệm mới; sẵn sàng
thay đổi, nghe ư kiến của người khác nếu
thấy hợp lư; sẵn sàng
cởi mở tạo ra cơ hội và khả năng
mới. |
|
Tuân thủ
kỷ luật |
-
Có khả năng tuân thủ quy tắc, quy định
luật pháp; khả năng kiềm chế hành vi không lành
mạnh; có khả năng tự lực, hoàn thành mục
tiêu. |
|
Đoàn kết |
-
Là sự hài hoà bên trong và giữa các cá nhân trong một
nhóm; biểu thị trách nhiệm đối với người
khác, biểu thị sự thiện cảm, chăm sóc người
khác bằng mọi h́nh thức khác nhau; chia sẻ giúp đỡ
mọi người khi cần thiết và có điều kiện. |
(Bảng 2 là các chuẩn mực xă
hội được trích từ sách “ Giáo dục hệ
thống giá trị đạo
đức nhân văn” - Bộ GD & ĐT và “Chương
tŕnh giáo dục các giá trị truyền thống” - UNESCO).
Sau
khi so sánh hai bảng 1& 2 , chúng tôi nhận thấy:
·
NGAY THẲNG:
“Dám nói ra những suy nghĩ
của ḿnh mà không sợ mất ḷng” được các em
lựa chọn nhiều nhất (41%), so với chuẩn
mực xă hội th́ không sai nhưng nhận thức như
vậy c̣n quá hạn hẹp. Nó không sai ở chỗ dám nói
ra những suy nghĩ của ḿnh là đă chân thật trong
lời nói, không giả
dối, thế nhưng liệu suy nghĩ ấy có đúng
với sự thật hay không và chỉ dưới góc
độ không sợ mất ḷng người khác thôi th́
chưa đủ. Ngay thẳng phải xuất phát từ
chính bản thân chứ không phải chịu một sức
ép nào khác.
Chiếm tỉ lệ cao thứ
2, các em cho rằng ngay thẳng là “nói đúng sự
thật, biết đấu tranh tới cùng chống
lại sự sai trái”. Đây là tiêu chí gần với
chuẩn mực xă hội nhất, mặc dù nó chỉ
chiếm tỉ lệ cao thứ 2, điều này phản
ánh các em đă có những nhận thức đúng
đắn về giá trị đạo đức này.
Ở lứa tuổi này, các em mang trong ḿnh rất nhiều những
ư tưởng, những h́nh mẫu cao đẹp. Do đó
các em luôn đ̣i hỏi ở ḿnh phải dám nói ra những
suy nghĩ của ḿnh, dám đấu tranh chống lại
sự giả dối, sai trái mới được coi là
người ngay thẳng.
Một
tỉ lệ không nhỏ (16%) các em cho rằng ngay thẳng “là
phải biết nhận lỗi, không bào chữa quanh co” và
11% cho rằng ngay thẳng là “có ư kiến khi cảm
thấy bất b́nh hay đồng t́nh”. Điều này cho
thấy các em muốn tỏ quan điểm của bản
thân ḿnh trước một vấn đề nào đó, dù là
đồng t́nh hay phản đối cũng chỉ
chỉ v́ mong muốn đem lại sự công bằng,
sự thật. Ngoài ra phải ngay thẳng với bản
thân ḿnh, sẵn sàng nhận lỗi khi ḿnh phạm lỗi.
Đây là những nhận thức đúng đắn
cần được phát huy.
·
ÂN CẦN:
60% các em học
sinh cho rằng ân cần là “luôn dịu dàng, sẵn sàng giúp
đỡ mọi người không phân biệt giàu nghèo,
địa vị xă hội cao hay thấp”; 18% học sinh
lựa chọn tiêu chí “quan tâm chăm sóc người khác khi
họ gặp khó khăn”; 16% học sinh coi việc “tận
tâm giúp đỡ người khác một cách chu đáo” cũng được coi là ân cần.
Ở đây đa số các em học sinh đều cho
rằng phải biết đối xử tốt với
người khác không phân biệt với bất kỳ ai,
luôn chăm sóc giúp đỡ người khác một cách
nhiệt t́nh, chu đáo mới được coi là
người ân cần. Như vậy, qua đây chúng ta
thấy ở học sinh PTTH các em rất coi trọng t́nh
cảm giữa con người với con người,
phải biết yêu thương chăm sóc nhau khi gặp khó
khăn, hoạn nạn. Tuy vậy vẫn c̣n 6% học sinh
cho rằng ân cần là phải biết làm cho người
khác vui vẻ. Đây là một nhận thức không phù
hợp với chuẩn mực của xă hội, nhưng nó
chỉ tồn tại ở một số ít học sinh mà
thôi.
·
CHÂN THÀNH:
41% các em cho
rằng chân thành là “luôn giúp đỡ người khác
xuất phát từ tấm ḷng”. Như vậy các em rất
coi trọng mối quan hệ giữa con người
với nhau. Ở đây chân thành không chỉ là giúp đỡ người khác
không thôi mà nó xuất phát từ tấm ḷng của ḿnh, biểu
hiện trong mọi lời nói, mọi hành động
đều phải thành thật.
29% các em lựa
chọn tiêu chí “sống thành thật với bản thân”.
Như vậy chúng ta có thể nhận thấy các em đă
biết nghiêm khắc với bản thân, bởi v́ chỉ
có nghiêm khắc với bản thân th́ mới dễ dàng
đối xử chân thành với người khác.
19% ư kiến cho
rằng chân thành là “không nói dối, trung thực, thật thà”.
Như vậy các em thiên về giá trị ngay thẳng
nhiều hơn, nhận thức như vậy cũng không
sai v́ chỉ có trung thực thật thà trong suy nghĩ th́
mới có được những hành động không
giả tạo. Tuy vậy vẫn c̣n 11% học sinh cho
rằng “luôn làm những điều ḿnh nghĩ” mới là
ngay thẳng. Suy nghĩ như vậy là chưa đầy
đủ v́ nó c̣n phụ thuộc vào suy nghĩ của
bản thân là đúng hay sai. Nếu như mọi cá nhân
đều làm theo những ǵ ḿnh nghĩ mà không cần suy
xét xem ḿnh nghĩ có đúng, có phù hợp hay không th́ khi đó
hành động của ḿnh sẽ dẫn tới những
việc khó lường. Chính v́ vậy người làm công
tác giáo dục cần phải giúp đỡ các em có
được những nhận thức đúng đắn
về giá trị này.
·
TINH THẦN
TRÁCH NHIỆM:
Một số
đông các em cho rằng người có tinh thần trách
nhiệm phải là người “luôn cố gắng hoàn thành
tốt công việc được giao” (41%), đây là
nhận thức gần nhất với chuẩn mực xă
hội. Điều này cho thấy các em rất có ư thức
đối với từng công việc và có trách nhiệm
với công việc đó. Tuy vây, người làm công tác giáo
dục phải giúp các em nhận thức rơ hơn về
chuẩn mực này, nghĩa là khi các em cố gắng hoàn
thành tốt công việc được giao không có nghĩa
là các em bất chấp mọi thủ đoạn
để hoàn thành công việc đó. Nếu các em dùng
thủ đoạn th́ cho dù công việc ấy hoàn thành
tốt tới đâu đi chăng nữa th́ nó cũng
chỉ là kết quả ảo, do vậy mà không thể coi
là người có tinh thần trách nhiệm. Người có
tinh thần trách nhiệm đối với công việc
được giao phải luôn luôn chân thực với
mục tiêu, công việc phải được tiến hành
với sự lương thiện và ư thức về
mục đích. Không những thế, người có tinh
thần trách nhiệm đối với công việc không
phải cứ nhận được công việc là lao vào
làm hết sức ḿnh, không có sự suy xét xem khả năng
của ḿnh làm được tới đâu, làm như
thế nào, mà đ̣i hỏi phải “ biết tính toán sao cho
công việc được hoàn thành tốt nhất”, tuy
nhiên tiêu chí này chỉ có 21% học sinh lựa chọn.
Ngoài ra c̣n có 24%
học sinh lựa chọn tiêu chí “dám làm dám chịu” nó
thể hiện sự thách đố, hiếu thắng trong
lứa tuổi học sinh, nó mang màu sắc không tích
cực. Mặc dù nếu làm không được th́ nhận
lỗi về ḿnh, nhưng nhận thức như vậy là
không đầy đủ. Một tỉ lệ nhỏ (6%)
các em cho rằng người có tinh thần trách nhiệm là
người “nhiệt t́nh trong công tác” đây cũng là
một nhận thức tích cực v́ sự nhiệt t́nh
cũng là một yếu tố thúc đẩy con
người ta cố gắng hoàn thành công việc
được giao.
·
TÔN TRỌNG
NGƯỜI KHÁC:
Đây là một
giá trị đạo đức rất quan trọng
cần phải giáo dục cho các em nhất là trong xă hội
ngày nay khi mà sự không tôn trọng người khác đang
diễn ra một cách thường xuyên.
43% ư kiến cho
rằng tôn trọng người khác là “biết chấp
nhận ư kiến đúng của người khác cho dù
họ có quan điểm trái ngược với ḿnh”. Ở
lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi rất
ương ngạnh, thích thể hiện cái tôi của
bản thân, sẵn sàng lấy lí lẽ dẫu biết
rằng là sai để bảo vệ tới cùng quan
điểm của ḿnh mà các em đă biết tự kiềm
chế để lắng nghe ư kiến của người
khác, sẵn sàng chấp nhận ư kiến của
người khác khi ư kiến đó là đúng. Điều
này cho thấy học sinh lớp 11 đă có những suy
nghĩ và cách xử sự khá chín chắn, đây là một
biểu hiện rất quan trọng trong việc cư
xử giữa người với người.
Tuy vậy
vẫn c̣n 35% học sinh cho
rằng phải “biết lắng nghe người khác”, cho
thấy đa số các em nhận thức chưa
đầy đủ so với các chuẩn mực xă
hội bởi v́ lắng nghe người khác chỉ là
một biểu hiện của sự tôn trọng mà thôi.
“Không xem
thường người khác” chiếm tỉ lệ 17% cho
thấy ở các em, có đức tính khiêm tốn, không
tự cao tự đại. 5% các em cho rằng tôn trọng
người khác là “không nói xấu người khác”. Đây
là một nhận thức chưa đầy đủ, nó
hay tồn tại ở lứa tuổi học sinh nhất
là học sinh các lớp nhỏ. Do đó người làm công
tác giáo dục cần phải giúp học sinh nhận
thức một điều quan trọng là tôn trọng
bản thân ḿnh cũng chính là tôn trọng người khác.
·
QUAN TÂM
TỚI NGƯỜI KHÁC:
Con người
không tồn tại độc lập mà tồn tại trong
các mối quan hệ xă hội. Con người
thường xuyên giao tiếp với nhau, do đó việc
quan tâm tới nhau là biểu hiện của t́nh cảm
giữa người với người. Qua khảo sát th́
43% học sinh cho rằng quan
tâm tới người khác thể hiện ở khía
cạnh “biết thăm hỏi người khác khi thấy
người khác gặp chuyện buồn hay khó khăn” và
40% học sinh cho rằng phải “biết chia sẻ
niềm vui nỗi buồn”. Từ kết quả trên cho
thấy việc quan tâm tới người khác ở các em
chỉ dừng lại ở lời hỏi thăm, chia
sẻ. Trong khi chỉ có 8% học sinh lựa chọn
“biết giúp đỡ người khác tận t́nh”, do
vậy chúng ta phải giúp các em nhận thức
được rằng việc quan tâm tới người
khác không chỉ là sự cảm thông trước nỗi
đau hay khó khăn của người khác mà phải có
hành vi phù hợp với khả năng của ḿnh
để giúp đỡ người khác. Hăy làm cho các em thấy
rằng việc giúp đỡ người già qua
đường, người gặp tai nạn giao thông, hay
việc ủng hộ quyển vở, cuốn sách… là đă
biết quan tâm tới người khác, chứ không nhất
thiết phải làm những ǵ thật to tát mới
được coi là quan tâm tới người khác.
9% học sinh cho
rằng quan tâm tới người khác là “biết khuyên
người khác làm điều tốt”, với kinh
nghiệm và tuổi đời của các em (hs lớp 11) th́
người mà các em có thể khuyên chỉ có thể là các em
nhỏ hoặc bạn bè cùng
trang lứa và việc khuyên người khác không phải
chỉ dừng lại ở lời nói mà các em phải
thể hiện được những việc làm tốt
của các em, có như vậy bạn bè mới chịu nghe
theo em. Như vậy rơ ràng quan tâm tới người khác
không chỉ dừng lại ở sự cảm thông mà c̣n
thể hiện ở hành vi cụ thể trong việc giúp
đỡ mọi người.
·
SỐNG TRONG
HÀI HOÀ
59% học sinh
cho rằng “sống hoà hợp được mọi
người yêu mến” là người sống trong hài hoà.
Nhận thức này khá chung chung, so sánh với chuẩn
mực xă hội th́ sống trong hài hoà là phải hiểu
biết lẫn nhau, tôn trọng và quan tâm tới
người khác, giúp đỡ người khác khi cần thiết.
Qua đó ta thấy, nhận thức của học sinh
về giá trị này c̣n rất mơ hồ. Bên cạnh
đó th́ 29% học sinh cho rằng “biết đặt
niềm vui, nỗi buồn đúng lúc đúng nơi”
mới là người sống trong hài hoà, nhận thức
như vậy là không sai nhưng chưa đầy
đủ và ở lứa tuổi của các em (hs lớp
11) th́ việc thực hiện được điều
này không hề đơn giản chút nào; 7% ư kiến cho
rằng “không gây gổ với người khác” và 5% cho
rằng có cái nh́n cuộc sống lạc quan, so sánh với
chuẩn mực xă hội th́ ta thấy các em nhận
thức về chuẩn mực này chưa đúng.
·
THÂN MẬT:
Ở học
sinh lớp11 là lứa tuổi mà các em rất coi trọng
t́nh cảm, lứa tuổi có nhiều tâm sự và nhu
cầu rất lớn trong việc bày tỏ t́nh cảm
của ḿnh. Chính v́ vậy mà có tới 60% ư kiến cho
rằng người thân mật là người “mà ta có
thể tâm sự hay bày tỏ suy nghĩ của ḿnh” và 21%
cho rằng “dễ gần gũi, gây được
thiện cảm với người khác”. So sánh với
chuẩn mực xă hội th́ nhận thức này của các
em là đúng nhưng chưa đầy đủ.
Để có thể gần gũi và gây được
thiện cảm với người khác, dễ dàng bày
tỏ tâm sự của ḿnh th́ đ̣i hỏi ở mỗi
bản thân các em phải có sự nhiệt t́nh, sự
cởi mở vui vẻ và nụ cười luôn
thường trực trên môi. Tuy vậy hai tiêu chí gần
với chuẩn mực xă hội nhất lại chiếm
tỉ lệ không cao chỉ có 14% lựa chọn tiêu chí
“luôn vui vẻ, cởi mở trong giao tiếp” và 5% lựa
chọn “nhiệt t́nh, giàu t́nh cảm”. Do đó, đ̣i
hỏi người làm công tác giáo dục phải giúp các em
có nhận thức đúng đắn về giá trị này.
Bởi sự thân mật sẽ giúp các em thuận tiện
hơn trong quá tŕnh giao tiếp với người khác
cũng như đạt kết quả tốt và ấn
tượng sâu sắc trong ḷng người vừa giao
tiếp.
·
KHOAN DUNG:
Từ xưa
đến nay, ở bất cứ một thời kỳ
nào, một xă hội nào th́ sự khoan dung luôn giữ
một vai tṛ quan trọng trong giá trị đạo
đức, và ở lứa tuổi học sinh th́ càng
đ̣i hỏi nhiều hơn sự khoan dung, nó sẽ giúp
các em có cách đối nhân xử thế tốt hơn. Qua
khảo sát th́ 76% các em cho rằng khoan dung là “sẵn sàng tha thứ
lỗi lầm của người khác nếu thấy
cần thiết”. Như vậy kết quả trên cho
thấy các em có nhận thức rất hạn hẹp
về giá trị khoan dung. Trong khi đó nhận thức
gần đúng nhất với chuẩn mực xă hội là
“hiểu người khác”, từ đó “biết chấp
nhận những đức tính trái ngược của
người khác” lại được các em lựa
chọn rất thấp (13%); 7% lựa chọn “tôn trọng
lối sống và văn hóa của người khác mặc
dù không đồng t́nh với họ” và 4% lựa chọn
“lễ phép, đối xử
với người khác một cách chân thành”. Như vậy
so với chuẩn mực xă hội về giá trị khoan
dung th́ học sinh c̣n nhận thức rất thấp, do
đó cần phải giáo dục cho các em kỹ hơn
về giá trị này.
·
SẴN SÀNG
TIẾP THU CÁI MỚI:
Xă hội luôn
phát triển không ngừng, do đó đ̣i hỏi mỗi cá
nhân phải không ngừng học hỏi, trau dồi thêm tri
thức th́ mới theo kịp sự phát triển của xă
hội. Đặc biệt là ở lứa tuổi học
sinh th́ sự học hỏi, t́m ṭi càng trở nên quan
trọng; 32% học sinh lựa chọn tiêu chí “luôn t́m ṭi
học hỏi điều mới mẻ”; 31% lựa
chọn “luôn lắng nghe ư kiến, kinh nghiệm của
người khác”; 28% lựa chọn “sẵn sàng thay
đổi, nghe ư kiến của người khác nếu
thấy hợp lí”. Qua đây cho ta thấy nhận thức
của các em khá phù hợp với chuẩn mực xă hội
về giá trị này. Tuy nhiên
các em c̣n khá thụ động v́ các em chưa “sẵn sàng,
cởi mở tạo ra cơ hội và khả năng
mới” (9%).
·
TUÂN THỦ
KỶ LUẬT:
Đây cũng là
một giá trị cần thiết cho mỗi cá nhân, trong quá
tŕnh học tập ở
trường học, đ̣i hỏi các em phải tuân theo
những nội quy, quy định của tập thể và
nhà trường; đối với học sinh nội trú
th́ càng đ̣i hỏi các em tuân thủ kỷ luật hơn.
Qua khảo sát, 65% ư kiến cho rằng người tuân
thủ kỷ luật là người “tự giác tuân theo
những quy định, quy tắc tập thể”, như
vậy là phần lớn các em học sinh lớp 11 có
nhận thức đúng về giá trị này. Tuy nhiên, tiêu chí
“có khả năng luôn kiềm chế hành vi không lành
mạnh” cũng là một giá trị rất cần
thiết đối với lứa tuổi học sinh.
Ở lứa tuổi mà các em rất hiếu động và
rất dễ xúc động mạnh từ đó dẫn
tới những hành vi không kiềm chế, nhưng lại
chỉ có 12% ư kiến lựa chọn tiêu chí này; 11% lựa
chọn “tôn trọng nề nếp sinh hoạt”. Nh́n chung,
đa phần các em đă hiểu được tầm
quan trọng của việc chấp hành nội quy, quy
định của tập thể và có ư thức tự giác
tuân theo.
·
ĐOÀN
KẾT:
Đoàn kết
thể hiện sức mạnh của tập thể,
một tập thể muốn vững mạnh th́ ở
đó các cá nhân phải có sự đoàn kết, tạo thành
một khối vững chắc. 65% lựa chọn “ chia
sẻ, giúp đỡ mọi người khi cần
thiết” đây là nhận thức phù hợp với
chuẩn mực xă hội; 11% lựa chọn “ không bao
giờ nói xấu người khác”; 14% lựa chọn “không
bao giờ kéo bè phái” và 10% lựa chọn “chăm sóc
người khác bằng các h́nh thức khác nhau”. Nh́n chung các
em đều nhận thức được việc
sống hài hoà trong tập thể, có trách nhiệm với
nhau sẽ tạo nên sự gắn bó giữa các thành viên và
đó sẽ là sức mạnh để các em cùng nhau
thực hiện công việc chung đạt hiệu quả
cao nhất.
Nh́n chung nhận
thức của học sinh lớp 11 trường DL Thanh
B́nh khá phù hợp với chuẩn mực được xă
hội công nhận, mặc dù chưa đầy đủ.
Những giá trị này được xây dựng trên
những lí tưởng, h́nh mẫu cao đẹp, những
điều tốt đẹp mà con người đang
hướng tới. Đây cũng là kết quả đáng
mừng. Tuy vậy vẫn c̣n một bộ phận nhỏ
học sinh có nhận thức rất hạn chế về
các giá trị đạo đức. Do đó đ̣i hỏi
người làm công tác giáo dục cần trau dồi cho các
em nhiều hơn nữa về các giá trị đạo
đức để qua đó các em có được
những hành vi phù hợp.
Qua
đây, người viết xin đưa ra một vài
giải pháp về việc giáo dục đạo
đức cho học sinh trong phạm vi nhà trường:
Một
là, việc tổ chức các hoạt động giáo
dục của nhà trường có ư nghĩa quan trọng
trong việc giáo dục đạo đức học sinh.
Thông qua môn học đạo đức và các môn học
khác, học sinh được hướng dẫn về ư
thức trách nhiệm bản thân, bổn phận, nghĩa
vụ đối với cộng đồng; về ḷng
tự trọng; về cách hành xử có văn hóa
trước những vấn đề trong cuộc
sống. Thông qua hoạt động đoàn đội,
hoạt động GDNGLL, hoạt động xă hội,
ngoại khoá, tiếp xúc với gương người
tốt việc tốt... học sinh khám phá, nhận
thức cuộc sống, rèn luyện kỹ năng sống
và hành xử phù hợp với nếp sống văn minh.
Hai
là, một tập thể có nếp sống đạo
đức là môi trường phát sinh, tồn tại và
củng cố những hành vi đạo đức. Dư
luận lành mạnh của tập thể có tác dụng
kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh nhận
thức và khẳng định các chuẩn mực
đạo đức cho học sinh. Do đó người
giáo viên có vai tṛ rất quan trọng trong việc xây dựng
tập thể lớp và hướng dẫn dư luận
tập thể đi đúng hướng.
Ba
là, vai tṛ của gia đ́nh có ư nghĩa quan trọng
đặc biệt đối với quá tŕnh h́nh thành nhân
cách, đạo đức của học sinh. Một gia
đ́nh hạnh phúc, hoà thuận yêu thương, kính trên
nhường dưới là cái nôi, là tổ ấm bền
vững để nuôi dưỡng và cung cấp cho
đời những con người có tâm hồn, có nhân cách,
có lương tri.
Bốn
là, chính quá tŕnh tự tu dưỡng, tự rèn luyện,
ư thức vươn lên không ngừng để trở thành
con người có nhân cách, có đạo đức sẽ là
yếu tố quyết định trong việc rèn luyện
và h́nh thành nhân cách của các em.
Các lực lượng nói
trên phải giúp học sinh nhận thức được
bản thân ḿnh, thấy được giá trị cuộc
sống tươi đẹp của con người, xây
dựng lí tưởng, ư chí, nuôi dưỡng những khát
vọng cao đẹp, luôn noi theo những tấm
gương người tốt việc tốt, biết xa
lánh việc xấu, biết tự hào về giá trị
bản thân ... Sự kết hợp chặt chẽ giữa
các yếu tố trên sẽ giúp cho các em có được
một nền tảng đạo đức vững
chắc, trong đó yếu tố nỗ lực tự thân
và quá tŕnh giáo dục trong nhà trường là hai yếu
tố chủ đạo./.