MỘT SỐ Ư KIẾN VỀ NỘI DUNG CHƯƠNG TR̀NH

GIÁO DỤC CÔNG DÂN THCS GÓP PHẦN NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Trường THCS ĐỨC TRÍ

 

 

 

 

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Như chúng ta đă biết, tồn tại xă hội và ư thức xă hội là 2 bộ phận của một xă hội. Xét đến cùng, tồn tại xă hội quyết định ư thức xă hội. Con người cũng là một thực thể xă hội, do đó, con người có 2 đặc tính : tính xă hội và tính tự giác. Hai đặc tính này luôn quy định và chế ước lẫn nhau. Quá tŕnh vận động này khiến nảy sinh những phạm trù, thuật ngữ, … gọi là những chuẩn mực đạo đức.

Vậy, đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện thái độ đánh giá quan hệ giữa lợi ích bản thân với lợi ích của người khác và của xă hội.

Giáo dục đạo đức lại là một đặc tính của bộ môn Giáo dục công dân (GDCD). Trong giáo dục đạo đức, nhà sư phạm phải tổ chức hoạt động, hành động trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể mà ở đó người học có cơ hội bộc lộ động cơ và ư thức đạo đức tương ứng. Có hoạt động mới tạo ra hoàn cảnh có tính đạo đức và cải tạo hoàn cảnh vô đạo đức.

Nội dung chương tŕnh GDCD bậc THCS là một hệ thống những bài đạo đức (HKI) và pháp luật được phân bổ đa dạng, mức độ đánh giá khá phong phú, đầy đủ từ thấp đến cao. Tuy nhiên, nội dung giáo dục đạo đức của chương tŕnh GDCD vẫn c̣n nhiều bất cập, cần phải có thêm nhiều giải pháp thực tế để giải quyết những khó khăn trước mắt và để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.

 

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NỘI DUNG GIÁO DỤC CỦA CHƯƠNG TR̀NH GDCD

1. Những ưu điểm:

Toàn bộ chương tŕnh, nội dung giáo dục đạo đức – công dân ở nhà trường phổ thông rất  phong phú, cơ bản đảm bảo được các yêu cầu của giáo dục đạo đức

- Sách Giáo khoa GDCD là tài liệu chủ yếu trong tiết dạy và học GDCD ở THCS. (Tuy nhiên khi sử dụng SGK, HS phải kết hợp được kiến thức lí thuyết với kiến thức thực tiễn thông qua lời giảng của GV và sự vật, hiện tượng xung quanh)

- Hệ thống bài học phân theo khối khá hợp lí:

Lớp 6 có 18 bài

Lớp 7 có 18 bài          phân bố từ thấp đến cao, từ dễ đến khó,

Lớp 8 có 21 bài          phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi THCS

Lớp 9 có 18 bài    

- Nội dung các bài học cũng được bố trí theo nguyên tắc nhất định: gồm 2 phần chính đạo đức (HKI) và pháp luật (HKII).

- Điểm nổi bật nhất phải nhắc đến chính là nguyên tắc xây dựng nội dung chương tŕnh: đồng tâm và phát triển. Trong đó:

o       Đồng tâm: mức độ khó được tăng dần từ lớp 6 => lớp 9. nhưng hầu hết vẫn xoay quanh các chuẩn mực đạo đức và kiến thức pháp luật cơ bản.

o       Phát Triển: các nội dung, chuẩn mực đạo đức mở rộng và khai thác sâu hơn những phạm trù liên quan đến hành vi của công dân Nhà nước CHXHCNVN ở các lớp cao hơn.

- Rơ ràng, cùng một giá trị đạo đức nhưng có sự phát triển về chất, cái cốt lơi của vấn đề khi học sinh bước qua các lớp cao hơn. Nguyên tắc đồng tâm và phát triển - có thể nói -  đó chính là nguyên tắc xuyên suốt kết nối toàn bộ cấu trúc chương tŕnh.

- Chương tŕnh đă đảm bảo được về cơ bản các yêu cầu giáo dục đạo đức – công dân nhằm giáo dục cho HS các chuẩn mực ở mức độ phù hợp với lứa tuổi, trên cơ sở góp phần h́nh thành những phẩm chất nhân cách của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập của thời đại.

- Nội dung đă kế thừa và phát triển gần như đầy đủ các giá trị, chuẩn mực trong toàn bộ hệ thống chuẩn mực đạo đức của Việt Nam và nhân loại.

- Chương tŕnh được soạn chuẩn từ kiến thức, kĩ năng đến SGK, giáo tŕnh Sư phạm,  phương thức dạy và học, … tất cả tạo nên sự thống nhất về nội dung trong cả nước, góp phần hạn chế t́nh trạng quá tải, căng thẳng, …

- Bên cạnh đó, tuy chương tŕnh chuẩn và thống nhất chung về nội dung nhưng h́nh thức lại được để mở. Tức là chương tŕnh chỉ mang tính chất “khung”, tính định hướng mà không áp đặt. Phần c̣n lại là do sự biến chuyển linh hoạt theo vùng, miền, đối tượng được GD, …

- Nội dung chương tŕnh thường xuyên được cập nhật, chọn lọc, có phần giảm tải, có phần bổ sung, …

- Nội dung có đảm bảo tính thống nhất về định hướng phù hợp với các yêu cầu cấp học, ngành học.

- Nội dung chương tŕnh mở ra một tầm nh́n mới bao quát và rơ nét hơn, là điều kiện chuẩn bị cho việc tiếp cận, đổi mới công tác giáo dục đạo đức về sau, so sánh và học tập quốc tế về tŕnh độ.

 

2. Những tồn tại:

- Nội dung chương tŕnh được bố trí thành 2 phần: Đạo Đức và Pháp Luật. Tuy nhiên, khi vận dụng vào giảng dạy, khối lượng bài học quá nhiều.

          Phần đạo đức (HKI): số lượng bài học khai thác các khái niệm và chuẩn mực đạo đức quá rộng, chưa tập trung vào một số nội dung đạo đức h́nh thành nhân cách học sinh.

Ví dụ : trung thực, tự trọng, biết ơn, ư thức trách nhiệm …

          Phần pháp luật (HKII): số lượng bài học lại nặng về tính pháp lí, nội dung chưa tóm lược cụ thể rơ ràng. Nội dung các điều khoản, đoạn trích văn bản pháp luật chưa tinh gọn, gây khó khăn cho HS khi tiếp thu bài học.

Ví dụ : quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (Luật tổ chức Nhà nước, Luật dân sự); Công ước Liên Hợp Quốc; quyền và nghĩa vụ bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm; quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; quyền tự do ngôn luận; …

- Nội dung chương tŕnh GDCD được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm và phát triển nhưng trong quá tŕnh dạy và học vẫn tồn tại một số điểm sau:

o       Đồng tâm chưa trọn vẹn:

§        Dựa trên cơ sở đặc điểm tâm lí lứa tuổi và khả năng nhận thức của HS THCS, nội dung các bài học GDCD vẫn chủ yếu tập trung ở 2 mảng đạo đức và pháp luật nhưng chưa thật sự phù hợp khi phân bố chương tŕnh theo khối.

§        Nội dung phần đạo đức chưa có tính liến kết, chủ đề c̣n rời rạc

§        Các chuẩn mực đạo đức được giáo dục trong chương tŕnh chưa cụ thể. Bên cạnh đó, chương tŕnh chưa có một chủ đề chung nhằm mục đích hướng các chuẩn mực đạo đức vào một trọng tâm thống nhất. Điều đó giải thích tại sao số lượng các chuẩn mực đạo đức đưa vào chương tŕnh tuy nhiều nhưng chưa nổi bật được trọng tâm chung nhất để phát triển các bài GDCD xoay quanh trọng tâm đó.

o       Phát triển chưa đầy đủ:

§        Khi xem xét và đối chiếu với kết quả thu được qua thực tiễn giảng dạy, nội dung chương tŕnh GDCD đang thiếu tính định hướng. Những giá trị đạo đức chưa có tính thực tiễn, chính xác hơn là HS chưa có điều kiện vận dụng kiến thức đó vào cuộc sống. HS khó có thể tự rút ra được giá trị đạo đức cho bản thân, cho cuộc sống khi những giá trị từ SGK quá thiên về lí thuyết, xa rời thực tiễn.

§        Từ khó khăn là nguyên tắc đồng tâm chưa trọn vẹn đă phân tích ớ trên nên hệ quả tất yếu là nguyên tắc phát triển cũng không thể đầy đủ, trọn vẹn khi nội dung chương tŕnh thiếu hẳn trọng tâm định hướng cho sự phát triển.

§        Mức độ phát triển cũng chỉ đồng bộ tương đối. Độ khó của nội dung bài học chưa thật sự phù hợp với tŕnh độ nhận thức của HS.

§        Các bài khi phân theo khối chưa tính toán hợp lí các nội dung, sự tương tác và quan hệ lẫn nhau đối với việc vận dụng vào thực tiễn.

 

Tóm lại:

Phần đạo đức:

- Nội dung các chuẩn mực trải dài và quá rộng, quá trừu tượng so với từng khối lớp.

- HS chưa thể vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng, thái độ, hành vi vào thực tiễn.

Phần pháp luật:

- Chọn bài tuy có tính điển h́nh nhưng chưa cụ thể

- Các nội dung pháp luật, điều khoản quá dài và nặng nề ngay từ tên bài học đến phần củng cố, gây căng thẳng, áp lực cho HS khi tiếp thu.

- Nội dung quá lạm dụng lí thuyết gây khó khăn cho GV khi vận dụng phương pháp giảng dạy, khó kích thích tư duy HS trong thời lượng chỉ 45 phút.

 

 

III. CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT

1. Về nội dung chương tŕnh GIÁO DỤC:

- Cần thống nhất 2 phương diện: phương diện truyền đạt và phương diện nêu gương trong GD đạo đức ở cả 3 môi trường Gia Đ́nh – Nhà Trường – Xă Hội.

- Biên soạn SGK cần quan tâm đến kênh h́nh, những câu chuyện sát thực với lứa tuổi. Phần bài tập cần phong phú gần với thực tiễn cuộc sống và phải có đáp án cụ thể. Các bài đọc mở đầu để h́nh thành khái niệm cần nghiên cứu, chọn những bài gần gũi, dễ nhớ (có thể thông qua một bài học thuộc ḷng hoặc một chuyện ngụ ngôn hay một câu chuyện phù hợp với tâm lư của từng lứa tuổi).

- Chương tŕnh phải thât sự là một kế hoạch hành động sư phạm kết nối mục tiêu GD: nội dung, phương pháp, phương tiện, tiến tŕnh giờ học (tổ chức lớp học) và cách thức đánh giá xếp loại học sinh phù hợp với tâm lí lứa tuổi với các lĩnh vực khác của xă hội.

- Nội dung dựa trên cơ sở một chương tŕnh, đảm bảo tính phổ thông, toàn diện, hướng nghiệp. Ngoài ra, nội dung c̣n cần phải cơ bản, tinh giảm. Thiết thực và cập nhật với sự phát triển KH – CN, KT – XH, tiến kịp tŕnh độ chung của các nước trong khu vực và thế giới.

- Giảm tính lí  thuyết hàn lâm, kinh viện; giảm nhẹ yeu cầu về tuyệt đối, chính xác, khoa học, cầu toàn trong quá tŕnh h́nh thành khái niệm mới và khó.

- Tăng tính thực tiễn, thực hành, h́nh thành khái niệm thông qua phương pháp dạy – học hợp lí.

- Đảm bảo vừa sức, khả thi, thực hiện được yêu cầu vể giảm tải: tích hợp các nội dung phù hợp cần lược bỏ nội dung trùng nhau.

- Thay đổi phương pháp kiểm tra kiểu lí thuyết và khả năng thuộc ḷng của HS,  tiếp tục tăng cường phát huy phương pháp kiểm tra kiểu kích thích tư duy và khả năng quan sát, xử lí, giải quyết vấn đề.

- Giảm số tiết trên lớp, tăng thời gian tự học và ngoại khoá.

- Về thời lượng của học tập và sinh hoạt của học sinh THCS ở nhà trường c̣n quá ít. Hiện nay, thời lượng học chỉ tập trung giải quyết học tập các kiến thức bộ môn, các hoạt động khác trong đó có cả những hoạt động giáo dục không có thời gian. Do đó nên tổ chức loại h́nh trường học 2 buổi/l ngày tại trường để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường phổ thông. (Bộ giáo dục, Viện chiến lược và chương tŕnh giáo dục đang hội thảo xây dựng mô h́nh trường học 2 buổi/ngày)

 

2. Về lực lượng SƯ PHẠM:

- Gia đ́nh – nhà trường – xă hội cần xem trọng GD đạo đức và bộ môn GDCD với mục đích nâng cao phẩm chất đạo đức công dân, giáo dục con người vừa hồng vừa chuyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Giáo dục đạo đức đ̣i hỏi phải tiến hành đồng bộ, có hệ thống từ môi trường, nội dung chương tŕnh đến phương pháp GD.

- Xă hội cần đấu tranh tích cực với những tệ nạn xă hội, nhằm gắn kết hiệu quả giữa lí thuyết và thực hành, phối hợp giữa Gia Đ́nh -  Nhà Trường - Xă Hội, xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục.

- Đảm bảo cơ sở vật chất cho các trường, tổ chuyên môn, đồ dùng dạy học, phương tiện, tư liệu nghiên cứu, … góp phần phục vụ cho công tác giảng dạy bộ môn.

- Đội ngũ giáo viên GDCD cần được đào tạo bài bản, nâng cao năng lực chuyên môn,  tránh trường hợp GV dạy chéo môn.

- Cần xác lập hệ chuẩn mực đạo đức mới, hiện đại phù hợp với những yêu cầu của xă hội hiện đại đưa vào nội dung SGK .

- Giải quyết một cách biện chứng quan hệ giữa các phổ biến và cái đặc thù trong các giá trị truyền thống và hiện đại.

- Địa phương cần đảm bảo tốt trật tự an toàn để tránh tác động ngược.

 

IV. KẾT LUẬN:

Phân tích ở góc độ sư phạm, chương tŕnh tuy có phong phú đa dạng nhưng mặt yếu của nó là khá nặng v́ cần phải chuyển tải quá nhiều về nội dung. Cấu tạo chương tŕnh chưa phải là điều kiện thuận lợi để h́nh thành nhân cách HS theo qui luật phát triển tâm lí tự nhiên. Đặc biệt, những phẩm chất cơ bản của nhân cách chưa được xác định bởi số lượng các giá trị đạo đức trong chương tŕnh quá nhiều nhưng chưa thống nhất. Thêm vào đó, phân phối chương tŕnh c̣n phân tán, thiếu tập trung, thiếu tính logic, chưa tạo được những dấu ấn quan trọng cho những phẩm chất cơ bản. Những nội dung về đạo đức, pháp luật cũng như kĩ năng sống khó được phân biệt trong quá tŕnh giảng dạy./.