GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC PHẢI H̀NH THÀNH ĐƯỢC HỆ
THỐNG
GIÁ TRỊ
VỮNG BỀN TRONG NHẬN THỨC VÀ TRONG TỪNG
HÀNH VI HOẠT
ĐỘNG
(Do Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo
thành phố Hồ Chí Minh tŕnh bày tại
cuộc
hội thảo “Nâng cao chất lượng giáo dục
đạo đức trong nhà trường phổ
thông”,
thành
phố Hồ Chí Minh tháng 12/2007)
Giáo dục
đạo đức - công dân là cung cấp kiến
thức và tạo điều kiện rèn luyện cho
học sinh h́nh thành những phẩm chất tốt
đẹp của con người có nhân cách, người
công dân tốt trong xă hội.
Giáo dục đạo đức
– công dân là môn học quan trọng nhất trong nhà
trường phổ thông v́ đó là môn chính, chủ
đạo toàn bộ hệ thống sư phạm “dạy
làm người” của nhà trường.
Giáo
dục đạo đức – công dân thể hiện
khả năng sư phạm của giáo viên cao nhất v́ đặc điểm của
môn học gắn bó hữu cơ với từng con
người cụ thể, với tâm sinh lư lứa
tuổi, với từng môi trường sinh sống và
hoạt động của học sinh.
Nếu
nói đổi mới giáo dục, quan trọng nhất là
đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên
phải nắm vững yêu cầu giáo dục và tổ
chức cho học sinh hoạt động để
chiếm lĩnh tri thức và rèn kỹ năng, quan hệ
thầy tṛ không c̣n là quan hệ áp đặt “đọc,
chép” mà là quan hệ hợp tác tạo được cả
cảm xúc đối với các giá trị của nội
dung giáo dục … th́ chính môn đạo đức – công dân
phải được đổi mới trước tiên và
mạnh mẽ nhất.
II.- Thực
trạng giáo dục đạo đức – công dân hiện
nay :
1. Về
cơ chế tổ chức môn học :
- Đạo đức
là một trong các tiêu chí quan trọng của mục tiêu đào
tạo của nhà trường (đức, trí, thể, mỹ
và lao động).
- Đạo đức
– công dân vừa được xây dựng thành một môn học
có giáo viên bộ môn phụ trách, vừa tổ chức cho học
sinh rèn luyện thông qua hoạt động tập thể lớp
do giáo viên chủ nhiệm phụ trách với Đội thiếu
niên tiền phong, Đoàn Thanh niên Cộng sản nhà trường.
- Về đánh giá, dù
môn đạo đức – công dân chưa được chọn
thành môn thi tốt nghiệp, nhưng việc ghi nhận sự
rèn luyện phấn đấu về mặt hạnh kiểm
của học sinh trong quá tŕnh học tập là rất quan
trọng, chiếm một tỉ trọng chi phối khá lớn
đối với kết quả học tập rèn luyện
của học sinh trong từng năm học.
2. Về nội dung giảng dạy.
2.1. Giáo dục mầm non :
Trước giáo dục
phổ thông chưa có môn đạo đức, nhưng các
trường mầm non thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu
tổ chức cho học sinh làm quen với những hành vi đạo
đức qua các quan hệ bạn bè, thầy cô, ông bà, cha mẹ,
anh chị em và thiên nhiên môi trường hay việc chấp
hành luật lệ giao thông bằng thơ ca và bằng các tṛ
chơi đóng vai nhẹ nhàng trong phong trào giáo dục lễ
giáo cho trẻ do Vụ giáo dục mầm non Bộ Giáo dục
và Đào tạo phát động.
“Trao đồ lễ phép hai
tay
Hai tay đón nhận, điều hay bé
làm”
“Thật thà trung
thực khi chơi
Làm sai biết lỗi bé thời đáng
khen”
(Bé học lễ
giáo- NXB Trẻ)
hoặc :
“Mẹ
cho em chiếc bánh đa
Em cầm chia nhỏ thành ba bốn
phần
Phần biếu mẹ, phần
biếu anh
C̣n phần nhỏ nhất mới
dành cho em
Cả nhà nhất nhất
đều khen
Mẹ bảo bé
thảo, bé hiền, con yêu”.
(Trần Thị Mỹ Phương – MG Sơn Ca 11 –
Q.11)
Yêu cầu chuẩn của
bậc học là “học sinh có thói quen giữ ǵn vệ sinh
thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường.
Biết yêu thương kính trọng ông bà, cha mẹ, yêu kính
bác hồ, những người lao động … Biết
quan tâm thông cảm giúp đỡ bạn bè, em nhỏ, những
người gần gũi. Hiểu được lời
nói, việc làm nào của ḿnh, của bạn bè là tốt, xấu.
Biết nhận lỗi, sửa lỗi, thật thà”.
Thời gian biểu mỗi
ngày đến trường mầm non của trẻ được
phân bổ như sau :
|
Thời gian |
Nội dung |
Thời gian |
Nội dung |
|
7g00 – 8g00 |
Đón trẻ, hoạt động tự
chọn, thể dục sáng |
10g40 – 11g20 |
Vệ sinh, ăn trưa |
|
8g00 – 9g20 |
Các giờ học |
14g00 – 14g30 |
Vệ sinh, vận động, ăn
xế |
|
9g20 – 9g50 |
Hoạt động ngoài trời |
14g30 – 15g40 |
Sinh hoạt chiều (Nêu gương chiều thứ
bảy) |
|
9g50 – 10g40 |
Tṛ chơi sáng tạo |
15g40 – 17g00 |
Vệ sinh, hoạt động tự
chọn |
Với thời gian phân
bổ như vậy, việc giáo dục lễ giáo được
vận dụng linh hoạt đối với từng lứa
tuổi qua nhiều h́nh thức phong phú, không áp đặt.
2.2. Giáo dục tiểu
học :
Ở Tiểu học,
môn Đạo đức được tŕnh bày ở lớp
1, lớp 2 và lớp 3 dưới dạng vở bài tập;
ở lớp 4 và lớp 5 tŕnh bày dưới dạng sách giáo
khoa, các nội dung giáo dục được nêu thành những
t́nh huống để học sinh phân tích t́m hiểu, học
tập.
Các nội dung giáo dục
được phân bổ như sau :
Lớp 1 có 14 bài : Em là học sinh lớp một; Gọn
gàng, sạch sẽ; Giữ ǵn sách vở, đồ dùng học
tập; Gia đ́nh em; Lễ phép với anh chị, nhường
nhịn em nhỏ; Nghiêm khi chào cờ; Đi học đều
và đúng giờ; Trật tự trong trường học;
Lễ phép, vâng lời thầy giáo, cô giáo; Em và các bạn; Đi
bộ đúng qui định; Cám ơn và xin lỗi; Chào hỏi
và tạm biệt; Bảo vệ hoa và cây nơi công cộng.
Lớp 2 có 14 bài : Học tập, sinh hoạt đúng giờ;
Biết nhận lỗi và sửa lỗi; Gọn gàng, ngăn
nắp; Chăm làm việc nhà; Chăm chỉ học tập;
Quan tâm, giúp đỡ bạn; Giữ ǵn trường lớp
sạch đẹp; Giữ trật tự, vệ sinh nơi
công cộng; Trả lại của rơi; Biết nói lời
yêu cầu, đề nghị; Lịch sự khi nhận và
gọi điện thoại; Lịch sự khi đến
nhà, người khác; Giúp đỡ người khuyết tật;
Bảo vệ loài vật có ích.
Lớp 3 có 14 bài : Kính yêu bác Hồ; Giữ lời hứa
; Tự làm lấy việc của ḿnh; Quan tâm chăm sóc ông
bà; Cha mẹ, anh chị em; Chia sẽ vui buồn cùng bạn;
Tích cực tham gia việc lớp, việc trường;
Quan tâm, giúp đỡ hàng xóm láng giềng; Biết ơn thương
binh liệt sĩ; Đoàn kết với thiếu nhi quốc
tế; Tôn trọng khách nước ngoài; Tôn trọng đám
tang; Tôn trọng thư từ, tài sản của người
khác; Tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước;
Chăm sóc cây trồng, vật nuôi.
Lớp 4 có 14 bài : Trung thực trong học tập; vượt
khó trong học tập; Biết bày tỏ ư kiến; Tiết
kiệm tiền của; Tiết kiệm thời giờ; Hiếu
thảo với ông bà, cha mẹ; Biết ơn thầy giáo,
cô giáo; Yêu lao động; kính trọng, biết ơn người
lao động; Lịch sự với mọi người ;
Giữ ǵn các công tŕnh công cộng; Tích cực tham gia các hoạt
động nhân đạo; Tôn trọng luật giao thông; Bảo
vệ môi trường.
Lớp 5 có 14 bài : Em là học sinh lớp 5; Có trách nhiệm
về việc làm của ḿnh; Có chí th́ nên; Nhớ ơn tổ
tiên; T́nh bạn; Kính già yêu trẻ; Tôn trọng phụ nữ;
Hợp tác với những người xung quanh; Em yêu quê hương;
Ủy ban nhân dân xă (phường); Em yêu tổ quốc Việt
Nam; Em yêu ḥa b́nh; Em t́m hiểu về Liên Hiệp Quốc; bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên.
2.3. Giáo dục trung học :
Ở Trung học cơ
sở, môn học được xác định là giáo dục
công dân được thể hiện mỗi khối lớp
là một quyển sách giáo khoa.
- Ở lớp 6 có 18 bài học : Tự chăm sóc, rèn
luyện thân thể ; Siêng năng, kiên tŕ; Tiết kiệm;
Lễ độ; Tôn trọng kỉ luật; Biết ơn;
Yêu thiên nhiên, sống ḥa hợp với thiên nhiên; Sống
chan ḥa với mọi người; Lịch sự, tế nhị;
Tích cực, tự giác trong hoạt động tập thể và trong hoạt động
xă hội; Mục đích học tập của học sinh;
Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ
em; Công dân nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa
Việt Nam; Thực hiện trật tự an toàn giao thông;
Quyền và nghĩa vụ học tập; Quyền được
pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, sức
khoẻ, danh dự và nhân phẩm; Quyền bất khả xâm
phạm về chỗ ở; Quyền được bảo
đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại,
điện tín.
- Ở lớp 7 có 18 bài học
: Sống giản dị; Trung thực; Tự trọng; Đạo
đức và kỉ luật; Yêu thương con người;
Tôn sư trọng đạo; Đoàn kết, tương trợ;
Khoan dung; Xây dựng gia đ́nh văn hóa; Giữ ǵn và phát
huy truyền thống tốt đẹp của gia đ́nh,
ḍng họ; Tự tin; Sống và làm việc có kế hoạch;
Quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
của trẻ em Việt Nam; Bảo vệ môi trường
và tài nguyên thiên nhiên; Bảo vệ di sản văn hóa; Quyền
tự do tín ngưỡng và tôn giáo; Nhà nước Cộng ḥa
xă hội chủ nghĩa Việt Nam; Bộ máy nhà nước
cấp cơ sở (xă, phường, thị trấn).
- Ở lớp 8 có 21 bài học
: Tôn trọng lẽ phải; Liêm khiết; Tôn trọng người
khác; Giữ chữ tín; Pháp luật và kỉ luật; Xây dựng
t́nh bạn trong sáng, lành mạnh; Tích cực tham gia các hoạt
động chính trị - xă hội; Tôn trọng và học hỏi
các dân tộc khác; Góp phần xây dựng nếp sống văn
hóa ở cộng đồng dân cư; Tự lập; Lao động
tự giác và sáng tạo; Quyền và nghĩa vụ của công
dân trong gia đ́nh; Pḥng, chống tệ nạn xă hội; Pḥng,
chống nhiễm HIV/AIDS; Pḥng ngừa tai nạn vũ khí,
cháy, nổ và các chất độc hại; Quyền sở
hữu tài sản và nghĩa vụ tôn trọng tài sản của
người khác; Nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ
tài sản nhà nước và lợi ích công cộng; Quyền
khiếu nại, tố cáo của công dân; Quyền tự do
ngôn luận; Hiến pháp nước Cộng ḥa xă hội chủ
nghĩa Việt Nam; Pháp luật nước Cộng ḥa xă hội
chủ nghĩa Việt Nam.
- Ở lớp 9 có 18 bài học
: Chí công vô tư; Tự chủ; Dân chủ và kỉ luật;
Bảo vệ ḥa b́nh; T́nh hữu nghị giữa các dân tộc
trên thế giới; Hợp tác cùng phát triển; Kế thừa
và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc
; Năng động, sáng tạo; Làm việc có năng suất,
chất lượng, hiệu quả; Lí tưởng sống
của thanh niên; Trách nhiệm của thanh niên trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước; Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn
nhân ; Quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế;
Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân; Vi
phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí của công dân; Quyền
tham gia quản lư nhà nước, quản lư xă hội của
công dân; Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; Sống
có đạo đức và tuân theo pháp luật.
Ở Trung
học phổ thông, vẫn với môn giáo dục công dân, nội
dung sách giáo khoa được xây dựng có tính lư luận hơn.
- Ở lớp 10 có 16 bài được
phân bổ thành 2 phần riêng biệt là : Công dân với việc
h́nh thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học
và Công dân với đạo đức Công dân với việc h́nh thành thế
giới quan, phương pháp luận khoa học và công dân đạo
đức : Thế giới quan duy vật và phương pháp
luận biện chứng; Thế giới vật chất tồn
tại khách quan; Sự vận động và phát triển của
thế giới vật chất; Nguồn gốc vận động,
phát triển của sự vật và hiện tượng; Cách
thức vận động, phát triển của sự vật
và hiện tượng; Khuynh hướng phát triển của
sự vật và hiện tượng; Thực tiễn và vai
tṛ của thực tiễn đối với nhận thức;
Tồn tại xă hội và ư thức xă hội; Con người
là chủ thể của lịch sử, là mục tiêu phát
triển của xă hội; Quan niệm về đạo đức;
Một số phạm trù cơ bản của đạo đức
học; Công dân với t́nh yêu, hôn nhân và gia đ́nh; Công dân với
cộng đồng; Công dân với sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc; Công dân với một số
vấn đề cấp thiết của nhân loại; Tự
hoàn thiện bản thân.
- Ở lớp 11 có 15 bài
được cấu trúc thành hai phần : Công dân với
kinh tế và công dân với các vấn đề chính trị
- xă hội bao gồm các bài Công dân với sự phát
triển kinh tế; Hàng hoá - Tiền tệ - Thị
trường; Quy luật giá trị trong sản xuất và
lưu thông hàng hoá; Cạnh tranh trong sản xuất và
lưu thông hàng hóa; Cung - cầu trong sản xuất và
lưu thông hàng hóa; Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước; Thực hiện nền kinh tế
nhiều thành phần và tăng cường vai tṛ quản
lí kinh tế của nhà nước; Chủ nghĩa xă
hội; Nhà nước XHCN; Nền dân chủ XHCN; Chính sách
dân số và giải quyết việc làm; Chính sách tài nguyên và
bảo vệ môi trường; Chính sách giáo dục và đào
tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá; Chính sách
quốc pḥng và an ninh; Chính sách đối ngoại.
- Ở lớp 12 (Chương tŕnh
hiện hành) có 20 bài gồm
hai phần : Một số vấn đề cơ bản
xây dựng đất nước trong giai đoạn
hiện nay và Một số vấn đề pháp luật
nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt
- Ở lớp 12 (Chương tŕnh phân
ban thí điểm) có 10 bài được cấu trúc
thành bốn chương : Pháp luật và thực hiện
pháp luật, Pháp luật với sự b́nh đẳng; Pháp
luật và tự do, dân chủ; Pháp luật với sự
phát triển của công dân, đất nước và nhân
loại bao gồm các bài Pháp luật và đời sống;
Thực hiện pháp luật; Ư thức pháp luật; Công dân
b́nh đẳng trước pháp luật; B́nh đẳng
giữa các dân tộc, tôn giáo; Công dân với các quyền
tự do cơ bản; Công dân với các quyền dân
chủ; Pháp luật với sự phát triển của công
dân; Pháp luật với sự phát triển bền vững
của đất nước; Pháp luật với ḥa b́nh và
sự phát triển, tiến bộ của nhân loại.
3. Về phương pháp dạy học đạo
đức – giáo dục công dân.
Phương pháp dạy
học đạo đức – công dân phổ biến là phương
pháp truyền thống, truyền thụ một chiều từ
giáo viên đến học sinh, hoạt động chính của
học sinh là ghi chép, thuộc ḷng và trả bài theo những
khuôn thước định sẵn.
Trong thời gian gần
đây, từ cuối thập kỷ 90 đến nay giáo viên
thành phố Hồ Chí Minh đă bắt đầu tiếp cận,
nâng cao nhận thức và thực hiện rất khả
quan về công cuộc đổi mới phương pháp dạy
học, nhất là từ khi có Nghị quyết 40/2000/QH10 của
Quốc hội về đổi mới nội dung chương
tŕnh phổ thông, giáo viên đă thành công bước đầu
về việc thực hiện phương pháp dạy học
mới, dạy cá thể, phát huy vai tṛ chủ động tích
cực của học sinh. Phương pháp truyền thụ
một chiều đă chuyển sang định hướng,
gợi mở, tạo điều kiện cho học sinh tiếp
cận, phân tích t́nh huống để bày tỏ quan điểm,
lập luận và tiếp nhận
chân lư, phân biệt đúng, sai.
III.- Đánh giá về kết quả
giáo dục đạo đức - công dân trong nhà
trường phổ thông.
Đánh
giá về hiệu quả trong của giáo dục đạo
đức – công dân và về mặt hạnh kiểm hầu
hết học sinh được đánh giá là tốt, khá và
đạt yêu cầu (trên 98%)
Về
hiệu quả ngoài, đạo đức học sinh được
xă hội và gia đ́nh đánh giá với nhiều ư kiến
khác nhau :
1. Những ư kiến đồng
t́nh ủng hộ :
Hầu
hết ư kiến cho rằng học sinh ngày nay thông minh, học
giỏi và rất nhạy bén với khoa học kỹ thuật.
Về mặt hạnh kiểm, đạo đức và ư thức
tổ chức kỷ luật trong nhà trường cũng
như việc chấp hành luật pháp trên đường
phố, dù không phê phán nhưng những ư kiến nầy cũng
không khen ngợi.
2. Những ư kiến phê phán :
Không
ít ư kiến bất b́nh về việc học sinh chạy
xe không đúng luật trên đường
phố, chửi thề, nói tục và thiếu lễ độ
với người lớn tuổi, thậm chí có những
trường hợp gây gỗ, đánh nhau. Khi được
hỏi dưới dạng phân tích th́ những ư kiến nầy
cho những hiện tượng trên cũng là số ít và thường
rơi vào những trường hợp học kém, ham chơi
và đặc biệt là ở những gia đ́nh phụ
huynh thiếu chăm sóc hoặc thiếu phương pháp giáo
dục.
3. Ư kiến của các cơ quan, đơn vị ,
trường đại học, cao đẳng :
Các
trường đại học, cao đẳng cho rằng học
sinh phổ thông thành phố Hồ Chí Minh học giỏi và
có tác phong nhanh nhẹn hơn học sinh ở địa phương
khác và không than phiền ǵ về ư thức tổ chức kỷ
luật của các em. Các cơ quan, đơn vị tiếp
nhận các em tham quan, học tập cũng cho rằng học
sinh phổ thông thông minh và lễ độ. Giáo sư Trưởng
ban đào tạo của trường Đại học quốc
gia Singapore (N.U.S) nhận xét học sinh Việt Nam tốt
nghiệp THPT mà ông biết, các em đều có 3 phẩm chất
đặc biệt là yêu nước, tin tưởng vào tương
lai và rất chịu khó học tập
IV.- Những nguyên nhân cơ bản
ảnh hưởng đến việc h́nh thành nhân cách
của học sinh phổ thông :
Với
các nhóm ư kiến nêu trên, ta có thể ghi nhận được
mặt tốt cơ bản về đạo đức của
số đông học sinh phổ thông nhất là ở khía cạnh
nhận thức. Vấn đề cần chấn chỉnh
nâng cao là khía cạnh thực hành, vận dụng trong cuộc
sống về những giá trị đạo đức mà
học sinh đă học được trong nhà trường
Có thể
nêu một số nguyên nhân cơ bản như sau :
1.
Hệ thống giá trị đạo đức xă hội :
Xă hội
đang trong quá tŕnh phát triển, chuyển đổi từ
cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường
theo định hướng xă hội chủ nghĩa. Với
đặc điểm ấy của nền kinh tế, nhiều
giá trị đạo đức cũng có những thay đổi,
cũ mới đan xen. Mặt khác, đất nước ta
từ nông nghiệp lạc hậu đang trong quá tŕnh công
nghiệp hóa và hiện đại hóa, cũng tạo không ít
những đổi thay về giá trị xă hội.
Nếu
nói đạo đức là những giá trị đảm bảo
quyền lợi của tập thể, của cộng đồng,
th́ sự thay đổi kinh tế nói trên dễ làm mất đi
những giá trị đạo đức nếu không được
giáo dục tốt. Lợi ích giữa cái riêng và cái chung khó được
giải quyết hài ḥa, mà cái riêng ích kỷ dễ lấn át
cái chung làm mất giá trị nhân văn trong cuộc sống
con người. Đây chính là khó khăn cơ bản và nặng
nề đối với việc giáo dục đạo đức
– công dân trong nhà trường hiện nay.
2.
Truyền thống văn hóa gia đ́nh :
Đạo
đức gia đ́nh không thoát ra khỏi những giá trị
đạo đức xă hội. Nhưng gia đ́nh có ảnh
hưởng trực tiếp và sâu sắc đến học
sinh nhiều hơn v́ ở đó có quan hệ huyết
thống, quan hệ kinh tế và đặc biệt là truyền
thống văn hóa của gia đ́nh. Nề nếp sinh hoạt
gia đ́nh, những giá trị xă hội được cha
mẹ, ông bà, anh chị em chọn lựa là những giá trị
có tác động mạnh mẽ nhất đến học
sinh, học sinh được tiếp nhận và thực
hiện đầy đủ nhất.
Hầu
hết những học sinh ngỗ nghịch, biếng học,
thiếu lễ độ, bất cần người khác,
không có trách nhiệm với xă hội và cộng đồng
… thường rơi vào những gia đ́nh không ḥa thuận
hoặc ít quan tâm đến những giá trị tinh thần,
không có trách nhiệm với xóm làng, khu phố, thậm chí không
chấp hành luật pháp, người lớn sống ích kỷ
với người thân và với cả con cháu của ḿnh.
3. Hệ
thống giáo dục đạo đức của nhà
trường :
Đây
là nội dung chính được tŕnh bày để hội
thảo dành thời gian bàn luận. Giáo dục đạo đức
– công dân trong nhà trường có thể phân tích từ 3 yếu
tố chính :
3.1- Môi trường giáo dục :
- Môi
trường sư phạm là một cụm từ rất
quen thuộc nhằm chỉ rơ điều kiện tác động
h́nh thành nhân cách con người từ cơ sở vật
chất (khang trang, trật tự, vệ sinh, …) đến
các hoạt động của các thành viên trong nhà trường
(tác phong sinh hoạt, làm việc, quan hệ, ...). Nh́n chung, môi
trường nhà trường tuy chưa hoàn toàn hiện đại
nhưng cơ bản đảm bảo được các
yêu cầu giáo dục đề ra.
- Tập
thể sư phạm, hầu hết các trường đều
được tổ chức chặt chẽ, đội
ngũ sư phạm được đào tạo chính qui,
hết ḷng chăm lo giáo dục học sinh.
- Khó
khăn chính hiện nay là một số cơ sở trường
học c̣n chật hẹp khó khăn nhất là ở khu vực
mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, một
số đơn vị tọa lạc ở những khu vực
dân cư với môi trường xă hội c̣n nhiều phức
tạp. Tập thể sư phạm của nhà trường
thường chưa đồng bộ, chưa hoàn toàn làm gương
tốt cho học sinh, thậm chí c̣n có cự ly trong việc
đánh giá đạo đức qua các hành vi cụ thể
của học sinh.
3.2-
Nội dung giáo dục :
Hệ
thống lại toàn bộ chương tŕnh, nội dung giáo
dục đạo đức – công dân ở nhà trường
phổ thông rất phong phú, cơ bản đảm bảo
được các yêu cầu giáo dục đạo đức
– công dân.
Tuy vậy,
phân tích về sư phạm, chúng ta thấy chương tŕnh
khá nặng. Cấu tạo của chương tŕnh chưa
phải là điều kiện thuận lợi để h́nh
thành nhân cách học sinh theo qui luật phát triển tâm sinh lư
tự nhiên. Đặc biệt, những phẩm chất cơ
bản của nhân cách chưa được xác định,
thể hiện qua phân phối chương tŕnh c̣n phân tán,
thiếu tập trung, thiếu tính logic, chưa tạo được
những dấu ấn quan trọng cho những phẩm chất
cơ bản. Những nội dung về đạo đức,
về luật pháp và về kỹ năng sống khó được
phân biệt trong quá tŕnh giáo dục.
3.3. Phương pháp giáo dục :
Phong
trào đổi mới phương pháp dạy học theo chủ
trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện
nay của giáo viên các trường đă từng bước
có những chuyển biến tích cực, tổ chức học
sinh chủ động học tập, thực hành, rèn luyện.
Tuy vậy,
cơ chế tổ chức hoạt động, đào tạo
và bồi dưỡng sư phạm, hệ thống chuẩn
mực và phương thức đánh giá trong nhà trường
chưa thật sự phát huy phương pháp dạy học
tích cực hiện nay. Đặc biệt trong giáo dục đạo
đức – công dân hiện nay, tính liên thông giữa các cấp
học, bậc học rất kém.
V.- Những giải pháp kiến
nghị nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng,
hiệu quả giáo dục đạo đức – công dân
trong nhà trường phổ thông.
1. Cần phải xác định
rơ và thống nhất cao về giá trị đạo
đức trong cộng đồng xă hội.
Hệ
thống giá trị đạo đức ngày xưa được
xác định là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Bác Hồ dạy
cho cán bộ là phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô
tư. C̣n xă hội ngày nay, giá trị đạo đức
ấy được xác định như thế nào để
tạo sự thống nhất cao trong 3 môi trường giáo
dục (gia đ́nh, nhà trường và xă hội). Phải chăng
phải là sự kế thừa và phát huy sáng tạo những
phẩm chất tốt đẹp nói trên, đặc biệt
chú trọng đến ḷng nhân ái, t́nh thương và trách nhiệm,
sự chấp hành luật pháp.
2. Xây dựng nội dung
chương tŕnh phù hợp theo hướng đồng tâm,
tập trung vào những phẩm chất cơ bản của
nhân cách và có tính liên thông cao.
Chương
tŕnh giáo dục đạo đức – công dân cần phải
xây dựng có hệ thống xuyên suốt qua các cấp học
theo hướng đồng tâm, xoay quanh các phẩm chất
cơ bản và phát triển theo qui luật tâm sinh lư của
học sinh rơ ràng hơn chương tŕnh hiện nay.
Mặt
khác, nội dung chương tŕnh phải được thể
hiện rơ các khía cạnh về đạo đức, về
luật pháp và về kỷ năng sống, trong đó đạo
đức là vấn đề then chốt, quan trọng nhất.
3. Phối hợp tốt các lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Phải
tăng cường nhiều hơn nữa các hoạt động
khoa học, tôn vinh và giáo dục đạo đức – công
dân trong xă hội, đặc biệt là thông qua các phương
tiện thông tấn báo chí.
----------