GIÁO DỤC L̉NG NHÂN ÁI TRONG
TRƯỜNG PHỔ THÔNG
MỘT NỘI DUNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
Trường THPT Trần Quang
Khải
1-Đặt vấn
đề:
Sống có đạo nghĩa, hiếu
thảo, sống có nhân cách, có tri thức trong giai
đoạn hiện nay đối với lứa tuổi
cắp sách đến trường là một thách thức
lớn. Giáo dục lối sống, giáo dục đạo
đức công dân không thể tách rời giáo dục tri
thức khoa học kỹ thuật. Dù bộ môn giáo dục
đạo đức công dân đă được
đưa vào chương tŕnh nhưng thực tế
vẫn chưa đạt chất lượng cao. Nhiều
học sinh chưa xem đây là
môn học quan trọng, có em sẵn sàng bỏ giờ
học môn này để làm một bài tập toán, một bài
tập Anh văn. Theo thống kê có gần 40% giáo viên
dạy môn Giáo dục công dân tại các trường chưa
được đào tạo đúng chuyên ngành mặc dù
khoa Giáo dục Chính trị tại các trường sư
phạm đă có gần đây nhưng số giáo viên
tại các khoa này rất ít. Xuất phát từ thực
tế trên, vừa qua, Thành ủy TP.
Hồ Chí Minh, cùng Ban Tư tưởng văn hóa Thành
ủy đă tổ chức cuộc toạ đàm với
chủ đề "Giáo dục v́ sự nghiệp trăm
năm". Nội dung của buổi tọa đàm đi
sâu vào việc tổ chức đào tạo bồi
dưỡng giáo viên, nâng cao chất lượng giáo
dục, đặt thẳng việc giáo dục đạo đức,
giáo dục công dân trong nhà trường, nâng cao chất
lượng "dạy người" song song
"dạy chữ". Tại cuộc tọa đàm
rất nhiều ư kiến thiết thực, sâu sắc,
đầy tâm huyết của các nhà giáo ưu tú, các nhà
quản lư, nghiên cứu giáo dục, các vị đại
biểu đại diện các đoàn thể, các phụ huynh
học sinh. Hầu hết các ư kiến đều nêu lên
một vấn đề chung : phải giáo dục
đạo đức, giáo dục công dân.
Vấn đề này cần và rất
cần đến vai tṛ nhà trường mà trước
hết là việc giáo dục ḷng nhân ái cho thanh thiếu niên
từ trong nhà trường, một trong những chuyên
đề giáo dục đạo đức cho học sinh
phổ thông.
1.1-Ḷng
nhân ái -T́nh thương theo
nghĩa đơn giản của từ này là năng
lực thông cảm với nỗi đau của
người khác. Thông cảm với nỗi đau của
người khác cũng chính là của chính ḿnh. Trong Báo cáo
chính trị tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ V có đề cập đến
"Thương nước, thương nhà, thương
người, thương ḿnh như là một truyền
thống đậm đà của nhân dân ta". Ḷng nhân ái, sự
khoan dung, truyền thống Việt Nam c̣n là vũ khí
lợi hại trong giải quyết các mối quan hệ
đối nội, đối ngoại trên cơ sở
độc lập và chủ quyền quốc gia, góp
phần xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, xă hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
T́nh thương - Ḷng nhân ái bắt
nguồn từ trong học đường. Chính nhà
trường và gia đ́nh là nơi giáo huấn đầu
tiên của trẻ, thầy cô và cha mẹ nào cũng dạy
con từ trong trứng nước, từ thuở c̣n
thơ, trong đó có việc dạy con ḷng nhân ái - t́nh
thương người.
1.2-Cần
nắm được đặc điểm tâm sinh lí
của thanh thiếu niên:
Thiếu niên là lứa tuổi từ
11-12 đến 15-16 tuổi. Đây là lứa tuổi
chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn
nên c̣n gọi là lứa tuổi "quá độ" và
tương ứng với lứa tuổi học sinh trung
học cơ sở và đầu phổ thông trung học.
So với lứa tuổi nhi đồng
th́ đây là một giai đoạn phức tạp và
nhiều mâu thuẫn. Nhiều cha mẹ, anh chị,
thầy cô giáo nắm được đặc
điểm của lứa tuổi này nên đạt
được kết quả giáo dục tốt trong công
tác giáo dục thiếu niên. Song, ở nhà trường
biết ban nhiêu "kinh nghiệm chua xót" về việc
dạy dỗ học sinh và con em ở lứa tuổi
dậy th́-lứa tuổi "quá độ", lứa
tuổi của "những sự đột biến
" đó đă gây nên biết bao cuộc bàn căi sôi nổi
giữa những người làm công tác giáo dục và
hiện nay vẫn là vấn đề c̣n bàn căi giữa tâm
lí học tư sản và tâm lí học Mácxít.
Xuất phát từ quan điểm Mácxít
về sự phát triển của nhân cách, chúng ta cho rằng
những biến đổi về mặt tâm lí, nhân cách,
ở tuổi thiếu niên là tất yếu và lành mạnh
về bản chất. Công tác giáo dục được
tổ chức và tiến hành đúng đắn sẽ giúp
cho thiếu niên vượt qua được mọi khó
khăn, phức tạp của thời ḱ quá độ
để sớm đạt tới một nhân cách phát
triển hài ḥa của tuổi trưởng thành.
Sự trưởng thành về cơ
thể tạo điều kiện cho hoạt động
xă hội rộng răi của thiếu niên. Các em có đủ
sức lực và khả năng để tham gia vào
hoạt động mới của xă hội và hoạt
động ấy đem lại những kết quả
thật sự khiến cho những người xung quanh chú
ư, coi trọng. Trong học tập, thiếu niên đă có
động cơ v́ xă hội, đă h́nh thành ư thức
việc học tập, chuẩn bị tích lũy tri
thức, kĩ năng làm việc cho xă hội sau này.
Sự phát triển thể chất
của lứa tuổi dậy th́, "sự phát
dục" là sự biến chuyển sâu sắc về
đặc điểm giải phẫu và chức năng
sinh lí của toàn bộ các bộ phận trong cơ
thể, một sự chỉnh đốn cơ thể
với quy mô lớn và tốc độ cao, do đó dẫn
đến sự thiếu ổn định mất cân
đối tạm thời giữa các bộ phận trong
cơ thể với nhau, cũng như giữa toàn bộ
cơ thể với môi trường sống như:
giữa xương và cơ, giữa tuần hoàn và nhịp
tim. Tuy sự chuyển biến tâm lí trong thời ḱ dậy
th́ không phụ thuộc theo tính chất hàm số
đối với các quá tŕnh phát triển thể chất.
Song, chúng ta đều nhận thấy rằng đặc
điểm phát triển thể chất của lứa
tuổi này gây nên những ảnh hưởng khá rơ rệt
đối với sự phát triển tâm lí nói chung và t́nh
cảm nói riêng của các em.
Một điểm đặc biệt
đáng lưu ư là các em ở lứa tuổi này bắt
đầu chú ư đến một vấn đề mới
ngoài học tập và vui chơi, đó là t́nh yêu nam nữ.
Các em thường bàn tán với nhau về t́nh yêu của
một số nhân vật trong chuyện, trong phim và
đời thường. Đối với các em, những
biểu hiện đầu tiên về t́nh yêu thường
để lại những ấn tượng sâu sắc và
nếu có một em nào sớm bước vào lĩnh vực
này th́ tâm trạng thay đổi rất mạnh. V́ ở
lứa tuổi này lư trí các em chưa đủ sức
chế ngự những rung cảm tự nhiên, nên t́nh
cảm được bộc lộ rơ rệt mà biểu
hiện đầu tiên là tính kín đáo, muốn giấu
niềm tâm sự của ḿnh và sự sút kém trong học
tập. Trong trường hợp này, thái độ của
cha mẹ, thầy cô giáo phải hết sức tế
nhị, không nên can thiệp thô bạo vào t́nh cảm của
các em, không tạo điều kiện để các em
khẳng định rơ t́nh cảm của ḿnh, nên khéo léo lôi
cuốn các em vào các hoạt động khác để các em
ít có thời gian chú ư đến sự thay đổi
phức tạp trong t́nh cảm bản thân.
Ngoài ra, ở lứa tuổi này các em
thường hay băn khoăn muốn hiểu biết
những biến đổi sinh lư đang diễn ra trong
cơ thể ḿnh, thường theo dơi một cách hồi hộp
những diễn biến này và nếu không được
giải thích một cách đúng đắn rằng những
thay đổi ấy là phù hợp với quy luật tự
nhiên th́ có thể các em sẽ hoảng hốt trước
sự biến đổi đó và có những hành
động không đúng. Việc này cũng đ̣i hỏi
một sự tế nhị lớn và một sự
hiểu biết tâm sinh lư của đứa trẻ. Không nên
tổ chức những buổi nói chuyện chung mà tốt
nhất nên nói chuyện giữa mẹ và con gái, giữa
bố và con trai. Trong khi nói chuyện, có thể các em
đặt nhiều câu hỏi, ta chỉ nên giải thích
những điều mà lứa tuổi và tri thức của
các em cho phép hiểu; không nên máy móc nói tất cả
những điều mà người lớn hiểu; chỉ
cung cấp một số kiến thức khoa học
tối thiểu để giúp các em có những nhận
thức và hành động đúng, rồi sau này cùng với
sự trưởng thành, các em sẽ tự hiểu thêm.
Chúng ta nên nhớ rằng, do tính ṭ ṃ của các em về
vấn đề này trong gia đ́nh,trong nhà trường,
trong tập thể không nên công khai nói những chuyện
đùa cợt nhảm nhí hay chuyện tiếu lâm
trước mặt các em, v́ do hiểu biết chưa
đầy đủ, nội dung những câu chuyện này
sẽ gây cho các em những cảm xúc không lành mạnh.
Quá tŕnh phát dục cùng với sự
mất cân đối tạm thời trong một số
bộ phận, nhất là hệ tim mạch c̣n làm cho t́nh
cảm các em có những nét đặc biệt so với
lứa tuổi nhi đồng. Đặc điểm t́nh
cảm các em lúc này là bồng bột, sốc nổi, tâm
trạng thất thường: dễ vui, dễ buồn,
dễ hăng say, dễ chán nản, điều này thể
hiện rơ cả trong học tập, công tác, lao
động. Do cơ thể phát triển nhanh và chưa
ổn định, do thể lực dồi dào nhưng kinh
nghiệm sống c̣n thiếu, nhiều khi các em tỏ ra
rất tin vào khả năng của ḿnh, mạnh dạn xông
xáo trong công việc, nhưng khi vấp phải những
thất bại đầu tiên th́ lại tỏ ra rụt
rè, sợ sệt. Nếu được cha mẹ,
người lớn, thông cảm, động viên, khuyến
khích và dạy cho kinh nghiệm cần thiết, các em sẽ
bước những bước vững vàng hơn, tránh
được hai thái cực: hoặc tự ti hoặc quá
tự tin đến mức thành kiêu ngạo, liều lĩnh
cũng v́ đặc điểm dễ kích động và
quá tŕnh hưng phấn trên vỏ năo chiếm ưu thế,
nên nhiều khi các em không làm chủ được những
xúc động, v́ vậy, nhiều khi chỉ do những
nguyên nhân không đáng kể cũng làm cho các em phản
ứng rất mănh liệt. Cha mẹ, anh chị em trong gia
đ́nh nên hiểu đây là những xung động cao
của tuổi dậy th́, đừng kết luận
vội vă đây là những biểu hiện chống
đối, khủng hoảng. Tuy vậy, không nên để
cho đặc điểm này trở thành một nét tính cách
ổn định ở các em. Ta nên lựa những lúc thích
hợp, phân tích cho các em thấy sai sót của ḿnh.
Trong lứa tuổi này, do đặc
điểm giải phẫu và chức năng sinh lư của
cơ thể đă hoàn chỉnh, các em cảm thấy ḿnh
trưởng thành và muốn sống độc lập
như một người lớn, các em có "xu
hướng muốn làm người lớn". Tác phong
tư thế các em trở nên nghiêm trang, đạo mạo
hơn, các em có ư thức rơ rệt về cá nhân ḿnh, có ư
thức tự trong cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong
công tác được giao. Cũng do cảm thấy năng
lực thể chất và tinh thần của ḿnh đang phát
triển, các em không những muốn hiểu biết
rất nhiều mà c̣n có tham vọng làm những việc
lớn lao, song v́ khả năng c̣n hạn chế nên dễ
nảy sinh ra mâu thuẫn giữa ước mơ và
năng lực. Trong trường hợp này ta không nên
dập tắt một cách thô bạo hoài băo của các em, nên
chấp cánh cho những ước mơ đó bay xa và giúp
các em có điều kiện thực hiện.
Ngoài ra, v́ muốn trở thành
người lớn, các em hay bắt chước
người lớn trong cách cư xử, hành vi và hành
động, nhưng v́ chưa biết lấy điểm
ǵ làm mẫu mực và đôi khi nhận thức cảm tính
vẫn chế ngự nên các em chưa phân biệt bản
chất hiện tượng, h́nh thức và nội dung nên
nhiều khi các em bắt chước cả những
điều sai trái, không hợp với lứa tuổi
của các em và đạo đức xă hội. Chính v́
vậy, trong nhà trường thầy cô giáo nên có sự chú ư
và có phương pháp giáo dục tế nhị, ân cần và
tỷ mỉ với các em. Qua những điều tŕnh bày
trên, chúng ta thấy rơ ảnh hưởng của sự phát
triển sinh lư đối với sự h́nh thành và phát
triển một số đặc điểm tâm lư của
các em ở lứa tuổi dậy th́ (thiếu niên). Tuy
điều kiện, thể chất không quyết
định đặc điểm tâm lư nhưng nếu coi
thường ảnh hưởng của nó ở giai
đoạn này, chúng ta sẽ thiếu cơ sở tự nhiên
để giải thích một số nét tâm lư độc
đáo chỉ gặp ở lứa tuổi này.
Hiểu rơ đặc điểm quá
độ, phức tạp và nhiều mâu thuẫn trong
sự phát triển sinh lư cũng như tâm lư của các em
ở lứa tuổi này, ta mới có thể t́m ra các
biện pháp giáo dục và tác động, cũng như
dạy học một cách thích hợp, có hiệu quả.
2-Giáo dục ḷng nhân ái trong nhà
trường một nội dung giáo dục đạo
đức cho học sinh phổ thông:
Trong bài này, do hạn chế của bài
viết và thời gian nên chỉ nêu một số suy
nghĩ như sau:
2.1-H́nh
thành và giáo dục nhu cầu cho trẻ:
Như chúng ta đều biết, nhu
cầu là nguồn gốc bên trong tạo nên tính tích cực
hoạt động của cá nhân.
Nhu cầu là sự đ̣i hỏi tất
yếu mà con người thấy cần được
thỏa măn. Có các loại nhu cầu như : nhu cầu
vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu giao
tiếp, nhu cầu hoạt động xă hội. Từ các
loại nhu cầu trên, các nhà tâm lư học phương Tây
đă thể hiện các mức độ của nhu
cầu sau:
- Nhu cầu hiện thực hóa.
- Nhu cầu thẩm mỹ.
- Nhu cầu nhận thức.
- Nhu cầu được quư trọng.
- Nhu cầu chấp nhận.
- Nhu cầu an toàn.
- Nhu cầu vật chất: ăn,
ở, mặc
Ngay từ lúc trẻ mới lọt ḷng :
đói mẹ cho nó ăn; đái ướt tă lót, mẹ thay
cho nó. Nó khóc dụi mắt muốn ngủ trong tiếng hà
ơi của người mẹ, mỗi lần
người mẹ thỏa măn nhu cầu cho nó - nó thoải
mái dễ chịu. Ở nhà, các bậc cha mẹ cần chú
ư nếu từ nhỏ đứa trẻ đói, mẹ cho
nó ăn, nó đ̣i ǵ cũng được, lúc đầu
nó đ̣i ăn no, sau ăn ngon. Nếu gia đ́nh lúc nào
cũng thỏa măn cho nó sẽ dẫn đến trẻ có
thói quen muốn ăn ngon, mặc đẹp, nếu không
được thỏa măn nó sẽ cảm thấy buồn
chán. Nếu cha mẹ cứ thỏa măn nhu cầu của nó
đến lúc không thể thỏa măn nữa nó t́m mọi
cách để thỏa măn nhu cầu ăn ngon mặc
đẹp và như vậy sẽ dẫn đến trôm
cướp, giết người miễn là thỏa măn nhu
cầu của nó. Chúng ta đều biết rằng,
muốn tồn tại và sống cần phải có ăn,
ở, mặc tức là phải có nhu cầu vật
chất. Người ta sống rồi mới có thể
tạo ra lịch sử. Việc thỏa măn nhu cầu
vật chất chính là tạo điều kiện
để giải phóng nhân cách con người thoát khỏi
những thói hư tật xấu như tham lam, trộm
cướp, ghen tỵ, đó là những thói xấu, là
hậu quả của những cuộc chiến tranh
khốc liệt v́ miếng ăn hàng ngày. Song, nếu
như mọi sự sáng tạo, mọi sự hoạt
động tích cực của con người, của nhân
loại, của từng gia đ́nh chỉ là nhằm
thỏa măn nhu cầu vật chất sẽ là sự hạ
thấp giá trị và nhân cách con người. Nếu con
người chỉ luôn đ̣i hỏi thỏa măn cái dạ
dày sẽ dần dần đồng nhất con
người và con vật. Điều cơ bản con
người khác xa với con vật là ngoài sự thỏa
măn nhu cầu vật chất c̣n có sự thỏa măn nhu
cầu giao tiếp, nhu cầu học tập, nhu cầu
hoạt động xă hội. Nếu ngay từ trong gia
đ́nh trẻ ham đọc sách, thích xem một bộ phim
giàu tính nhân ái, vui tính được thưởng thức
một vẻ đẹp khi ánh trăng lấp ló ngọn
tre, hoan hỷ khi chứng kiến một hành v́ cử
chỉ đẹp giữa người với
người, tất cả những điều đó
trở thành động lực tinh thần thôi thúc hành vi
hoạt động của con người, từ đó
trở thành nhu cầu không thể thiếu được
trong đời sống tinh thần trẻ. Từ những
nhu cầu này sẽ thôi thúc trẻ lớn lên, hoạt
động tích cực, góp phần đem lại những
giá trị vật chất và tinh thần cho xă hội. Đó
cũng chính là h́nh thành giáo dục cho thế hệ trẻ
làm điều thiện.
V́ vậy, ngay từ trong nhà
trường phải giáo dục cho trẻ có động
cơ nhu cầu đúng đắn. Cần làm cho trẻ
thấy rằng được đọc một quyển
sách, được tặng một quyển vở, một
bông hoa. Điều đó nhiều khi c̣n quư hơn
được bữa ăn ngon (tất nhiên không phải
lúc nào cũng vậy).
2.2-H́nh
thành cho trẻ ngay từ nhỏ có tấm ḷng khoan dung (bao
dung).
Vậy bao dung là ǵ? Tầm quan trọng
của nó ra sao?
Khoan dung (bao dung), nhân ái là hướng
tới sự gần gũi con người, cùng với
mọi người chia sẻ để làm phong phú thêm
những giá trị của con người thông qua các
nền văn hóa ngôn ngữ và sự sáng tạo của
mỗi cá nhân.
Ḷng khoan dung có nghĩa là một thái
độ không kiêu ngạo trong các mối quan hệ,
giữa các giới tính, giữa các cá nhân, giữa các
cộng đồng và giữa con người với thiên
nhiên. V́ vậy, ḷng khoan dung của mỗi con người
phải được h́nh thành ngay từ nhỏ. Trong
tiếng Việt với nhiều cung bậc màu sắc khác
nhau nhưng "họ hàng" với từ "bao
dung" có thể kể ra nhiều: thông cảm, tha
thứ, dung thứ, độ lượng, đại
lượng, khoan hồng, khoan dung. Bao dung gợi lên ư
một con người khách quan với sự thông cảm
rộng răi để không có một ứng xử
đối lại xấu, ác, nghịch.
Như vậy, bao dung có nguồn gốc
từ ḷng "nhân" : nhân tài, nhân ái, nhân đạo, nhân
văn. Nhân văn là yêu con người thực sự
hiểu biết số phận của mỗi con
người: "Thương người như thể
thương thân", mới nảy sinh được bao
dung.
Tuy nhiên, người có ḷng bao dung chân
chính bao giờ cũng nghiêm khắc với ḿnh, rộng răi
độ lượng với kẻ khác, tha thứ
nhiều cho người mà không tha thứ cho ḿnh. Tất
cả những vấn đề trên thuộc nội hàm
của khái niệm bao dung cần được h́nh thành và
giáo dục ngay từ nhỏ - từ trong nhà trường
cho học sinh bằng gương cư xử của
thầy cô giáo đối với chúng.
2.3-Tạo
điều kiện cho trẻ bộc lộ điều
thiện, loại bỏ điều ác:
Thiện và ác là một cặp phạm
trù đối lập nhau trong mọi thời đại,
mặc dù quan niệm về nó có thể thay đổi hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của các quốc gia,
dân tộc khác nhau. Thiện và ác cũng là những phạm
trù cơ bản làm ranh giới hay là thước đo
đời sống đạo đức của mọi các
nhân.
Ngay từ thờ cổ đại,
nhiều nhà tư tưởng đă muốn t́m ra một
số đặc tính cố định của con
người để giải thích nguồn gốc ư
thức, hành vi đạo đức của mọi cá nhân
đang biểu hiện ra muôn h́nh, muôn vẻ và cũng
phức tạp trong cuộc sống chung của xă hội.
Quan niệm của các học giả cổ đại
phương Đông như Khổng Tử (551 - 479 TCN) và
Mạnh Tử (372 - 289 TCN " nhân chi sơ tính bản
thiện" cho rằng con người sinh ra đă mang
bản chất, mầm mống của cái
"thiện". Người ta không ai là không thiện
cũng như nước không lúc nào là không chảy
xuống chỗ trũng. Trái với Khổng Tử và
Mạnh Tử, Tuân Tử (289 - 238 TCN) cho rằng, tính
người ta vốn ác. Tính là cái ta không thể làm ra
được, nhưng có thể hóa đá được.
Rơ ràng các quan niệm trên đều cho thiện và ác là
những thuộc tính bản chất của con
người từ lúc mới sinh ra mang tính chất thiên
nhiên, tiền định.
Không có quan niệm thiện ác nào là
vĩnh viễn với mọi thời đại, đúng
với mọi giai cấp, đúng với mọi hoàn
cảnh cụ thể. Cái thiện theo nghĩa tổng quát
chính là cái tốt đẹp, biểu hiện ḷng nhân ái
của con người trong đời sống hàng ngày mà ai
cũng mong muốn. Đó cũng chính là những hành vi
thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp với
yêu cầu và sự tiến bộ xă hội. V́ thế, cái
thiện cơ bản nhất là phải giải phóng con
người ra khỏi sự áp bức, bóc lột, mọi
sự đau khổ bất hạnh trong đời
sống chung của xă hội cũng như đời
sống riêng của từng người, từng gia
đ́nh. V́ thế, cái thiện không phải là cái thiện
của ư thức mà là cái thiện của hiện thực.
Hiện nay chúng ta đang phấn đấu để có
một xă hội trong đó dân giàu, nước mạnh, xă
hội dân chủ,công bằng, văn minh hoặc trong
phạm trù gia đ́nh "con hơn cha là nhà có phúc"
vợ chồng con cái thương yêu nhau là điều
hạnh phúc, con cái có hiếu đó là sự thể hiện
ḷng nhân ái-t́nh thương, là cái thiện lớn lao
nhất. Cái thiện ấy phải được nuôi
dưỡng h́nh thành từ nhỏ. Nó không phải là cái con
người sinh ra đă có sẵn mà là sự rèn luyện
củng cố hàng ngàn năm nghĩa là phải qua hoạt
động giao tiếp mới có ḥa đồng cảm xúc
giữa con người với con người. Khi có
cảm xúc-rung cảm, giữa con người với nhau
tất sẽ có điều thiện, cái thiện.
Các giá trị đạo đức
tập thể làm thành cái thiện.
Giá trị đạo đức : Tính
chất thuần túy xă hội của khái niệm thiện
ác là ở chỗ đó chính là ở chỗ đó chính là
những phán xét chê hoặc khen của cộng đồng
và các thành viên của nó. Các định nghĩa cái thiện
như là cái ǵ đóng góp vào lợi ích chung của cộng
đồng chắc chắn sẽ bị nhiều
người chê là quá đơn giản, thế nhưng
liệu có cách nói nào sát với nghĩa thông dụng hơn
không?
Có một sự phân biệt rạch ṛi
giữa lợi ích của cá nhân của gia đ́nh với
phúc lợi của toàn thể cộng đồng do
những cá nhân và gia đ́nh ấy hợp lại mà thành.
Những ai đặt lợi ích cộng đồng lên trên
hết và đem cuộc sống riêng của ḿnh ra phụng
sự cho cuộc sống chung của xă hội th́ sẽ
được coi là có đạo đức cao. Những
lợi ích của cá nhân trùng với những lợi ích xă
hội của các thành viên khác, của nhóm của cộng
đồng đều coi là tốt. Đây chính là bản
tính có lương tri của con người. Nói như
vậy có nghĩa là phải qua hoạt động giao
tiếp mới có ḥa đồng cảm xúc giữa con
người với con người.
V́ vậy, trong cuộc sống gia
đ́nh cha mẹ nào cũng yêu thương con, nhưng không
nên cưng chiều quá mức làm cho nó nghĩ là ḿnh đang
là "trung tâm vũ trụ" muốn ǵ th́
được ấy, muốn làm ǵ th́ làm. Như vậy,
điều ác sẽ xảy ra và bi kịch gia đ́nh
sẽ đến.
Muốn dạy con làm điều
thiện, gặp phải đứa con ngang bướng,
cạn nghĩ liệu có nên thách đố với nó không?
V́ tuổi trẻ bồng bột và cũng ngông cuồng và
một khi điều ác xảy ra tất kéo theo bi kịch
gia đ́nh.
Chẳng hạn, trong t́nh huống có
đứa con hư đốn, cần b́nh tĩnh lấy
t́nh yêu thương tấm ḷng bao dung của người
cha để cứu vớt con, bởi v́ thực tế cho
thấy, không nên đuổi ngựa bằng roi mà nên
đuổi ngựa bằng lúa mạch, nhất là đối
với những con ngựa bất kham.
Do vậy, trong môi trường học
đường nói riêng và trong xă hội nói chung cần
phải xác định thái độ khi nh́n thấy cái ác,
đừng đắn đo và đừng tính toán cho dù
đó là người thân, là đứa con ḿnh đứt
ruột đẻ ra. Mà cần đấu tranh chống
lại cái ác hay là bỏ qua? Lúc đó bố mẹ,tháy cô
giáo cần b́nh tĩnh chín chắn hành động theo
mệnh lệnh của trái tim và lương tâm. Những
t́nh cảm cao thượng chính là lính gác trung thành của
lương tâm. Một khi con người c̣n là lương
tâm là c̣n điều thiện cho dù nhỏ nhoi. Người
xưa đă nói: "Tư tưởng đi vào tâm hồn
chúng ta qua những cánh cửa của t́nh cảm".
Sự thật đó là một quy luật, đóng vai tṛ
rất lớn trong việc giáo dục. Tuy nhiên, dù cho
những cánh cửa tâm hồn chúng ta có mở rộng
đến thế nào cũng không có ǵ lọt vào đấy
được, nếu như con người, không sống
một cuộc sống tŕ tuệ phong phú Nói một cách h́nh
ảnh, t́nh cảm cần một thứ thức ăn
nhiều chất. Thứ thức ăn đó chính là ư
nghĩa, là tư tưởng. Thiếu sự suy nghĩ
nghiền ngẫm, xét đoán, t́nh cảm sẽ biến
thành điều nhỏ mọn. Trong việc giáo dục thái
độ đối với cái ác, mối quan hệ qua
lại giữa ư nghĩa và t́nh cảm đóng vai tṛ
đặc biệt quan trọng. Những rung động
đầu tiên của một tâm hồn trọng danh dự
mà chúng ta đang nói ở đây chỉ có thể trở
thành nguồn ư chí độc đáo khi mà sự suy nghĩ
luôn luôn làm cho người ta phải băn khoăn, khi mà
một sự việc nhỏ trong cuộc sống gợi
lên cho người ta một sự suy nghĩ lớn trong
cuộc đời. Đạo lư của việc giáo
dục người công dân chân chính là ở chỗ: dạy
cho con người biết nhận thấy và cảm
thấy cái ác ở bên cạnh ḿnh, biết đứng lên
chống lại cái ác đó một cách dũng cảm và vô
điều kiện. Đồng chí Lê Duẩn trong cải
cách giáo dục đă nói: "Ngay từ nhỏ cần
phải dạy cho trẻ có miếng bánh biết chia cho
bạn v́ đó là mầm mống của điều
thiện".
Muốn làm được điều
đó không nên cho rằng người thày được
phép dạy dỗ,giáo dục, có uy quyền đối
với học tṛ. Lúc nào cũng bắt học tṛ phải
nghe, phải làm theo ư ḿnh. Nhiều thầy cô giáo làm mất
cả sự ngây thơ, tự do của học sinh,
thậm chí học tṛ cái nghĩ ǵ về thày của ḿnh,
nhiều thày cô giáo không cần quan tâm tới điều
đó. Họ cho họ làm thầy là có quyền tối
thượng và mọi việc họ nghỉ họ nói,
họ làm đều là đúng cả. Thực ra, kết
quả của toàn bộ việc giáo dục phần lớn
phụ thuộc vào tính chất mối quan hệ giữa
học tṛ với người thày. Trẻ em có óc quan sát khá
tinh vi. Các em nh́n rơ và nghe thấy hết. Càng lớn các em
càng đánh giá sâu sắc và có ư thức hơn tư cách và
tính nết của thày cô, quan hệ giữa những
người thầy với nhau và với những
người khác. Học tṛ có cách biểu hiện t́nh yêu
thương thầy cô riêng mà người lớn không
phải lúc nào cũng hiểu
hết.
Có chuyện tưởng là b́nh
thường như muôn ngàn chuyện đă gặp, đă
nghe hàng ngày. Song, qua việc làm của học tṛ chắc
đă làm thầy cô giáo không thể coi thường suy
nghĩ và t́nh cảm của học tṛ. Là những
người làm thầy nên hiểu: Giữa người
thầy và học tṛ đâu chỉ có t́nh thầy tṛ mà c̣n có
cả t́nh bạn - mặc dù là t́nh bạn đặc
biệt. V́ vậy, thầy cô giáo cần b́nh tâm và hăy
lắng nghe, cảm nhận, tôn trọng những suy
nghĩ t́nh cảm của các em. Bởi lẽ, trẻ em
tư duy bằng h́nh thù, màu sắc âm thanh và bằng cảm
xúc nói chung. Một sự chăm sóc nhường nhịn,
hy sinh của người thầy sẽ để lại
ấn tượng trong tâm tư t́nh cảm, ḷng biết
ơn đối với đứa trẻ. Nhưng một
nỗi buồn, sự vô t́nh, sự xúc phạm của
người thầy, đối với chúng c̣n để lại ấn
tượng trong tâm hồn trẻ sâu sắc hơn.
Bởi niềm vui có thể qua đi nhưng nỗi
buồn sự tủi hờn vẫn theo ta năm tháng.
Trẻ em có những suy nghĩ, t́nh cảm, cách biểu
hiện của nó thể hiện ḷng tôn trọng, biết
ơn đối với thầy cô đôi lúc người
lớn chúng ta vô t́nh hay hữu ư không nhận thấy
điều ấy.
Ḷng nhân ái-t́nh thương với con
người, với bạn bè, đồng chí, nhân loại
trước hết phải thể hiện chính từ trong
học đường: t́nh thầy tṛ, t́nh bạn bè của
ḿnh. Nếu từ nhỏ học tṛ không biết yêu
thương, kính trọng thầy cô, ông bà, cha mẹ, anh
chị em, chắc chắn khó có t́nh yêu thương với
bạn bè, đồng chí, đồng bào, đồng
nghiệp.
Đôi khi v́ một lư do nào đó,
người lớn chúng ta thường che đậy t́nh
cảm, suy nghĩ của ḿnh. Song, trẻ em không thế, v́
bao giờ nó cũng thể hiện những t́nh cảm
trực tính của ḿnh: vô tư, chân thật, hồn nhiên,
trung thành và rất đỗi ngây thơ. Do vậy nhiều
khi chính những đứa con ngoan, tṛ giỏi tạo nên
cha mẹ, thầy cô giáo tốt.
Bởi v́, thiện và ác ở tuổi
thơ rất rơ ràng, chính xác không một chút mơ hồ. Ở
tuổi thơ hoặc là yêu, hoặc là ghét; hành động
hoặc là đúng hoặc là sai chứ không có trạng thái
trung gian. Tuy chưa có kinh nghiệm và kiến thức
nhưng ít nhất th́ trực giác cũng đă dứt khoát
đối với cái đẹp, cái xấu, thành thật và
giả dối.
Kiến thức rộng răi và cảm xúc
sâu lắng không phải là bao giờ cũng chung sống ḥa
b́nh ở tuổi thơ. Những tṛ chơi, những ṭ ṃ,
những điều tưởng tượng, những
sự quan tâm, những câu chuyện của trẻ con
nếu như người lớn không hủy hoại quá
sớm cái không khí đặc biệt ấy, th́ chính trong
đó sẽ nảy sinh sự phong phú sau này của
đời sống tinh thần. Nếu như người
lớn hiểu ra, biết đánh giá và động viên cái
lăng mạn trong sạch trong giai đoạn của tuổi
thơ th́ như vậy chính họ đă làm rất
nhiều cho hạnh phúc của đứa trẻ.
T́nh yêu và sự gắn bó với mọi
người, với động vật, với thiên nhiên,
t́nh cảm đầu tiên về bạn bè, và đồng
chí, sự thận trọng đối với việc
tốt, tính ham hiểu biết không bao giờ chán. Đó là
tất cả những đức tính, cần phải trang
bị cho thế giới tinh thần của trẻ em, làm phát
triển tư duy và tư tưởng của chúng.
Đúng là có một số người
c̣n giữ lại được trong ḿnh từ tuổi
thơ cách nh́n và vẻ đẹp, những cảm xúc
tươi mát. Nhưng chỉ có người nào có tâm
hồ trẻ trung mới biết được như
hồi c̣n thơ hân hoan và sửng sốt trước cái
huyền bí của trời chiều và cảnh hoàng hôn trên
đường phố, mới nhận thấy những
cánh chim bay lượn trên nền mây sáng lạn, mới
cảm thấy được mùi thơm của cây quả
và hơi ấm của lá rừng dưới ánh mặt
trời. V́ vậy, tuổi thơ không giả tạo, t́nh
cảm thật là tuyệt vời: cười khi
đọc truyện vui, khóc khi đọc truyện
buồn. Thật là hạnh phúc nếu ai giữ lại
được suốt đời ḿnh những trực tính
của t́nh cảm.
3-Đề nghị :
Môn Đạo đức ở bậc
tiểu học, môn Giáo dục công dân ở bậc phổ
thông, đều phải được soạn thảo
một chương tŕnh hoàn chỉnh hơn và trong bài
giảng giáo viên phải khai thác ư tưởng hợp lư.
Song song với bài học tại các trường, nên
chăng cần phát động những phong trào "gương
hiếu thảo", "nhân cách, nghĩa cử
đẹp", bên cạnh những giải thưởng
"gương học tốt", giải thưởng
"Lê Quư Đôn". Việc đầu tiên mà các ư kiến
đề cập đến là "mỗi thầy cô là
một tấm gương sáng cho học sinh noi theo",mỗi thành viên trong nhà
trường phải "Sống có trách nhiệm",
phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà
trường, gia đ́nh và xă hội. Phải biểu dương,
khen thưởng và kỷ luật thích đáng với ư
thức đạo đức của các em trong từng
trường hợp cụ thể./.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1-Hồ
Chí Minh: Bàn về công tác giáo dục.NXB Sự Thật-Hà
Nội,1977.
2-Bôgiôvich:Nhân
cách và h́nh thành nhân cách trẻ.Tài liệu dịch,Tâm lư giáo
dục,Hà Nội.1981.
3-Lê
Duẫn-Trường Chinh-Phạm Văn Đồng-Tố
Hữu: "Thấu suốt đường lối
của Đảng,đưa sự nghiệp giáo dục
tiến lên mạnh mẽ vững chắc".NXB Sự
Thật -Hà Nội.1978
4-Lê
Thị Bừng:Gia đ́nh-trường học đầu
tiên của ḷng nhân ái-NXB Giáo dục-Hà Nội.1998.
5-Người
phụ nữ và gia đ́nh Việt
6-Tạp
chí cộng sản .Số 779(9-2007)
********