GIÁO DỤC L̉NG NHÂN ÁI TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG

MỘT NỘI DUNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH

Trường THPT Trần Quang Khải

 

 

 

1-Đặt vấn đề:

Sống có đạo nghĩa, hiếu thảo, sống có nhân cách, có tri thức trong giai đoạn hiện nay đối với lứa tuổi cắp sách đến trường là một thách thức lớn. Giáo dục lối sống, giáo dục đạo đức công dân không thể tách rời giáo dục tri thức khoa học kỹ thuật. Dù bộ môn giáo dục đạo đức công dân đă được đưa vào chương tŕnh nhưng thực tế vẫn chưa đạt chất lượng cao. Nhiều học sinh chưa  xem đây là môn học quan trọng, có em sẵn sàng bỏ giờ học môn này để làm một bài tập toán, một bài tập Anh văn. Theo thống kê có gần 40% giáo viên dạy môn Giáo dục công dân tại các trường chưa được đào tạo đúng chuyên ngành mặc dù khoa Giáo dục Chính trị tại các trường sư phạm đă có gần đây nhưng số giáo viên tại các khoa này rất ít. Xuất phát từ thực tế trên, va qua, Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, cùng Ban Tư tưởng văn hóa Thành ủy đă tổ chức cuộc toạ đàm với chủ đề "Giáo dục v́ sự nghiệp trăm năm". Nội dung của buổi tọa đàm đi sâu vào việc tổ chức đào tạo bồi dưỡng giáo viên, nâng cao chất lượng giáo dục, đặt thẳng việc giáo dục đạo đức, giáo dục công dân trong nhà trường, nâng cao chất lượng "dạy người" song song "dạy chữ". Tại cuộc tọa đàm rất nhiều ư kiến thiết thực, sâu sắc, đầy tâm huyết của các nhà giáo ưu tú, các nhà quản lư, nghiên cứu giáo dục, các vị đại biểu đại diện các đoàn thể, các phụ huynh học sinh. Hầu hết các ư kiến đều nêu lên một vấn đề chung : phải giáo dục đạo đức, giáo dục công dân.

Vấn đề này cần và rất cần đến vai tṛ nhà trường mà trước hết là việc giáo dục ḷng nhân ái cho thanh thiếu niên từ trong nhà trường, một trong những chuyên đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông.

1.1-Ḷng nhân ái -T́nh thương theo nghĩa đơn giản của từ này là năng lực thông cảm với nỗi đau của người khác. Thông cảm với nỗi đau của người khác cũng chính là của chính ḿnh. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V có đề cập đến "Thương nước, thương nhà, thương người, thương ḿnh như là một truyền thống đậm đà của nhân dân ta". Ḷng nhân ái, sự khoan dung, truyền thống Việt Nam c̣n là vũ khí lợi hại trong giải quyết các mối quan hệ đối nội, đối ngoại trên cơ sở độc lập và chủ quyền quốc gia, góp phần xây dựng một nước Việt Nam  giàu mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh.

T́nh thương - Ḷng nhân ái bắt nguồn từ trong học đường. Chính nhà trường và gia đ́nh là nơi giáo huấn đầu tiên của trẻ, thầy cô và cha mẹ nào cũng dạy con từ trong trứng nước, từ thuở c̣n thơ, trong đó có việc dạy con ḷng nhân ái - t́nh thương người.

1.2-Cần nắm được đặc điểm tâm sinh lí của thanh thiếu niên:

Thiếu niên là lứa tuổi từ 11-12 đến 15-16 tuổi. Đây là lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn nên c̣n gọi là lứa tuổi "quá độ" và tương ứng với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở và đầu phổ thông trung học.

So với lứa tuổi nhi đồng th́ đây là một giai đoạn phức tạp và nhiều mâu thuẫn. Nhiều cha mẹ, anh chị, thầy cô giáo nắm được đặc điểm của lứa tuổi này nên đạt được kết quả giáo dục tốt trong công tác giáo dục thiếu niên. Song, ở nhà trường biết ban nhiêu "kinh nghiệm chua xót" về việc dạy dỗ học sinh và con em ở lứa tuổi dậy th́-lứa tuổi "quá độ", lứa tuổi của "những sự đột biến " đó đă gây nên biết bao cuộc bàn căi sôi nổi giữa những người làm công tác giáo dục và hiện nay vẫn là vấn đề c̣n bàn căi giữa tâm lí học tư sản và tâm lí học Mácxít.

Xuất phát từ quan điểm Mácxít về sự phát triển của nhân cách, chúng ta cho rằng những biến đổi về mặt tâm lí, nhân cách, ở tuổi thiếu niên là tất yếu và lành mạnh về bản chất. Công tác giáo dục được tổ chức và tiến hành đúng đắn sẽ giúp cho thiếu niên vượt qua được mọi khó khăn, phức tạp của thời ḱ quá độ để sớm đạt tới một nhân cách phát triển hài ḥa của tuổi trưởng thành.

Sự trưởng thành về cơ thể tạo điều kiện cho hoạt động xă hội rộng răi của thiếu niên. Các em có đủ sức lực và khả năng để tham gia vào hoạt động mới của xă hội và hoạt động ấy đem lại những kết quả thật sự khiến cho những người xung quanh chú ư, coi trọng. Trong học tập, thiếu niên đă có động cơ v́ xă hội, đă h́nh thành ư thức việc học tập, chuẩn bị tích lũy tri thức, kĩ năng làm việc cho xă hội sau này.

Sự phát triển thể chất của lứa tuổi dậy th́, "sự phát dục" là sự biến chuyển sâu sắc về đặc điểm giải phẫu và chức năng sinh lí của toàn bộ các bộ phận trong cơ thể, một sự chỉnh đốn cơ thể với quy mô lớn và tốc độ cao, do đó dẫn đến sự thiếu ổn định mất cân đối tạm thời giữa các bộ phận trong cơ thể với nhau, cũng như giữa toàn bộ cơ thể với môi trường sống như: giữa xương và cơ, giữa tuần hoàn và nhịp tim. Tuy sự chuyển biến tâm lí trong thời ḱ dậy th́ không phụ thuộc theo tính chất hàm số đối với các quá tŕnh phát triển thể chất. Song, chúng ta đều nhận thấy rằng đặc điểm phát triển thể chất của lứa tuổi này gây nên những ảnh hưởng khá rơ rệt đối với sự phát triển tâm lí nói chung và t́nh cảm nói riêng của các em.

Một điểm đặc biệt đáng lưu ư là các em ở lứa tuổi này bắt đầu chú ư đến một vấn đề mới ngoài học tập và vui chơi, đó là t́nh yêu nam nữ. Các em thường bàn tán với nhau về t́nh yêu của một số nhân vật trong chuyện, trong phim và đời thường. Đối với các em, những biểu hiện đầu tiên về t́nh yêu thường để lại những ấn tượng sâu sắc và nếu có một em nào sớm bước vào lĩnh vực này th́ tâm trạng thay đổi rất mạnh. V́ ở lứa tuổi này lư trí các em chưa đủ sức chế ngự những rung cảm tự nhiên, nên t́nh cảm được bộc lộ rơ rệt mà biểu hiện đầu tiên là tính kín đáo, muốn giấu niềm tâm sự của ḿnh và sự sút kém trong học tập. Trong trường hợp này, thái độ của cha mẹ, thầy cô giáo phải hết sức tế nhị, không nên can thiệp thô bạo vào t́nh cảm của các em, không tạo điều kiện để các em khẳng định rơ t́nh cảm của ḿnh, nên khéo léo lôi cuốn các em vào các hoạt động khác để các em ít có thời gian chú ư đến sự thay đổi phức tạp trong t́nh cảm bản thân.

Ngoài ra, ở lứa tuổi này các em thường hay băn khoăn muốn hiểu biết những biến đổi sinh lư đang diễn ra trong cơ thể ḿnh, thường theo dơi một cách hồi hộp những diễn biến này và nếu không được giải thích một cách đúng đắn rằng những thay đổi ấy là phù hợp với quy luật tự nhiên th́ có thể các em sẽ hoảng hốt trước sự biến đổi đó và có những hành động không đúng. Việc này cũng đ̣i hỏi một sự tế nhị lớn và một sự hiểu biết tâm sinh lư của đứa trẻ. Không nên tổ chức những buổi nói chuyện chung mà tốt nhất nên nói chuyện giữa mẹ và con gái, giữa bố và con trai. Trong khi nói chuyện, có thể các em đặt nhiều câu hỏi, ta chỉ nên giải thích những điều mà lứa tuổi và tri thức của các em cho phép hiểu; không nên máy móc nói tất cả những điều mà người lớn hiểu; chỉ cung cấp một số kiến thức khoa học tối thiểu để giúp các em có những nhận thức và hành động đúng, rồi sau này cùng với sự trưởng thành, các em sẽ tự hiểu thêm. Chúng ta nên nhớ rằng, do tính ṭ ṃ của các em về vấn đề này trong gia đ́nh,trong nhà trường, trong tập thể không nên công khai nói những chuyện đùa cợt nhảm nhí hay chuyện tiếu lâm trước mặt các em, v́ do hiểu biết chưa đầy đủ, nội dung những câu chuyện này sẽ gây cho các em những cảm xúc không lành mạnh.

Quá tŕnh phát dục cùng với sự mất cân đối tạm thời trong một số bộ phận, nhất là hệ tim mạch c̣n làm cho t́nh cảm các em có những nét đặc biệt so với lứa tuổi nhi đồng. Đặc điểm t́nh cảm các em lúc này là bồng bột, sốc nổi, tâm trạng thất thường: dễ vui, dễ buồn, dễ hăng say, dễ chán nản, điều này thể hiện rơ cả trong học tập, công tác, lao động. Do cơ thể phát triển nhanh và chưa ổn định, do thể lực dồi dào nhưng kinh nghiệm sống c̣n thiếu, nhiều khi các em tỏ ra rất tin vào khả năng của ḿnh, mạnh dạn xông xáo trong công việc, nhưng khi vấp phải những thất bại đầu tiên th́ lại tỏ ra rụt rè, sợ sệt. Nếu được cha mẹ, người lớn, thông cảm, động viên, khuyến khích và dạy cho kinh nghiệm cần thiết, các em sẽ bước những bước vững vàng hơn, tránh được hai thái cực: hoặc tự ti hoặc quá tự tin đến mức thành kiêu ngạo, liều lĩnh cũng v́ đặc điểm dễ kích động và quá tŕnh hưng phấn trên vỏ năo chiếm ưu thế, nên nhiều khi các em không làm chủ được những xúc động, v́ vậy, nhiều khi chỉ do những nguyên nhân không đáng kể cũng làm cho các em phản ứng rất mănh liệt. Cha mẹ, anh chị em trong gia đ́nh nên hiểu đây là những xung động cao của tuổi dậy th́, đừng kết luận vội vă đây là những biểu hiện chống đối, khủng hoảng. Tuy vậy, không nên để cho đặc điểm này trở thành một nét tính cách ổn định ở các em. Ta nên lựa những lúc thích hợp, phân tích cho các em thấy sai sót của ḿnh.

Trong lứa tuổi này, do đặc điểm giải phẫu và chức năng sinh lư của cơ thể đă hoàn chỉnh, các em cảm thấy ḿnh trưởng thành và muốn sống độc lập như một người lớn, các em có "xu hướng muốn làm người lớn". Tác phong tư thế các em trở nên nghiêm trang, đạo mạo hơn, các em có ư thức rơ rệt về cá nhân ḿnh, có ư thức tự trong cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác được giao. Cũng do cảm thấy năng lực thể chất và tinh thần của ḿnh đang phát triển, các em không những muốn hiểu biết rất nhiều mà c̣n có tham vọng làm những việc lớn lao, song v́ khả năng c̣n hạn chế nên dễ nảy sinh ra mâu thuẫn giữa ước mơ và năng lực. Trong trường hợp này ta không nên dập tắt một cách thô bạo hoài băo của các em, nên chấp cánh cho những ước mơ đó bay xa và giúp các em có điều kiện thực hiện.

Ngoài ra, v́ muốn trở thành người lớn, các em hay bắt chước người lớn trong cách cư xử, hành vi và hành động, nhưng v́ chưa biết lấy điểm ǵ làm mẫu mực và đôi khi nhận thức cảm tính vẫn chế ngự nên các em chưa phân biệt bản chất hiện tượng, h́nh thức và nội dung nên nhiều khi các em bắt chước cả những điều sai trái, không hợp với lứa tuổi của các em và đạo đức xă hội. Chính v́ vậy, trong nhà trường thầy cô giáo nên có sự chú ư và có phương pháp giáo dục tế nhị, ân cần và tỷ mỉ với các em. Qua những điều tŕnh bày trên, chúng ta thấy rơ ảnh hưởng của sự phát triển sinh lư đối với sự h́nh thành và phát triển một số đặc điểm tâm lư của các em ở lứa tuổi dậy th́ (thiếu niên). Tuy điều kiện, thể chất không quyết định đặc điểm tâm lư nhưng nếu coi thường ảnh hưởng của nó ở giai đoạn này, chúng ta sẽ thiếu cơ sở tự nhiên để giải thích một số nét tâm lư độc đáo chỉ gặp ở lứa tuổi này.

Hiểu rơ đặc điểm quá độ, phức tạp và nhiều mâu thuẫn trong sự phát triển sinh lư cũng như tâm lư của các em ở lứa tuổi này, ta mới có thể t́m ra các biện pháp giáo dục và tác động, cũng như dạy học một cách thích hợp, có hiệu quả.

 

2-Giáo dục ḷng nhân ái trong nhà trường một nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông:

Trong bài này, do hạn chế của bài viết và thời gian nên chỉ nêu một số suy nghĩ như sau:

2.1-H́nh thành và giáo dục nhu cầu cho trẻ:

Như chúng ta đều biết, nhu cầu là nguồn gốc bên trong tạo nên tính tích cực hoạt động của cá nhân.

Nhu cầu là sự đ̣i hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa măn. Có các loại nhu cầu như : nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu hoạt động xă hội. Từ các loại nhu cầu trên, các nhà tâm lư học phương Tây đă thể hiện các mức độ của nhu cầu  sau:

- Nhu cầu hiện thực hóa.

- Nhu cầu thẩm mỹ.

- Nhu cầu nhận thức.

- Nhu cầu được quư trọng.

- Nhu cầu chấp nhận.

- Nhu cầu an toàn.

- Nhu cầu vật chất: ăn, ở, mặc

Ngay từ lúc trẻ mới lọt ḷng : đói mẹ cho nó ăn; đái ướt tă lót, mẹ thay cho nó. Nó khóc dụi mắt muốn ngủ trong tiếng hà ơi của người mẹ, mỗi lần người mẹ thỏa măn nhu cầu cho nó - nó thoải mái dễ chịu. Ở nhà, các bậc cha mẹ cần chú ư nếu từ nhỏ đứa trẻ đói, mẹ cho nó ăn, nó đ̣i ǵ cũng được, lúc đầu nó đ̣i ăn no, sau ăn ngon. Nếu gia đ́nh lúc nào cũng thỏa măn cho nó sẽ dẫn đến trẻ có thói quen muốn ăn ngon, mặc đẹp, nếu không được thỏa măn nó sẽ cảm thấy buồn chán. Nếu cha mẹ cứ thỏa măn nhu cầu của nó đến lúc không thể thỏa măn nữa nó t́m mọi cách để thỏa măn nhu cầu ăn ngon mặc đẹp và như vậy sẽ dẫn đến trôm cướp, giết người miễn là thỏa măn nhu cầu của nó. Chúng ta đều biết rằng, muốn tồn tại và sống cần phải có ăn, ở, mặc tức là phải có nhu cầu vật chất. Người ta sống rồi mới có thể tạo ra lịch sử. Việc thỏa măn nhu cầu vật chất chính là tạo điều kiện để giải phóng nhân cách con người thoát khỏi những thói hư tật xấu như tham lam, trộm cướp, ghen tỵ, đó là những thói xấu, là hậu quả của những cuộc chiến tranh khốc liệt v́ miếng ăn hàng ngày. Song, nếu như mọi sự sáng tạo, mọi sự hoạt động tích cực của con người, của nhân loại, của từng gia đ́nh chỉ là nhằm thỏa măn nhu cầu vật chất sẽ là sự hạ thấp giá trị và nhân cách con người. Nếu con người chỉ luôn đ̣i hỏi thỏa măn cái dạ dày sẽ dần dần đồng nhất con người và con vật. Điều cơ bản con người khác xa với con vật là ngoài sự thỏa măn nhu cầu vật chất c̣n có sự thỏa măn nhu cầu giao tiếp, nhu cầu học tập, nhu cầu hoạt động xă hội. Nếu ngay từ trong gia đ́nh trẻ ham đọc sách, thích xem một bộ phim giàu tính nhân ái, vui tính được thưởng thức một vẻ đẹp khi ánh trăng lấp ló ngọn tre, hoan hỷ khi chứng kiến một hành v́ cử chỉ đẹp giữa người với người, tất cả những điều đó trở thành động lực tinh thần thôi thúc hành vi hoạt động của con người, từ đó trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống tinh thần trẻ. Từ những nhu cầu này sẽ thôi thúc trẻ lớn lên, hoạt động tích cực, góp phần đem lại những giá trị vật chất và tinh thần cho xă hội. Đó cũng chính là h́nh thành giáo dục cho thế hệ trẻ làm điều thiện.

V́ vậy, ngay từ trong nhà trường phải giáo dục cho trẻ có động cơ nhu cầu đúng đắn. Cần làm cho trẻ thấy rằng được đọc một quyển sách, được tặng một quyển vở, một bông hoa. Điều đó nhiều khi c̣n quư hơn được bữa ăn ngon (tất nhiên không phải lúc nào cũng vậy).

2.2-H́nh thành cho trẻ ngay từ nhỏ có tấm ḷng khoan dung (bao dung).

Vậy bao dung là ǵ? Tầm quan trọng của nó ra sao?

Khoan dung (bao dung), nhân ái là hướng tới sự gần gũi con người, cùng với mọi người chia sẻ để làm phong phú thêm những giá trị của con người thông qua các nền văn hóa ngôn ngữ và sự sáng tạo của mỗi cá nhân.

Ḷng khoan dung có nghĩa là một thái độ không kiêu ngạo trong các mối quan hệ, giữa các giới tính, giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng và giữa con người với thiên nhiên. V́ vậy, ḷng khoan dung của mỗi con người phải được h́nh thành ngay từ nhỏ. Trong tiếng Việt với nhiều cung bậc màu sắc khác nhau nhưng "họ hàng" với từ "bao dung" có thể kể ra nhiều: thông cảm, tha thứ, dung thứ, độ lượng, đại lượng, khoan hồng, khoan dung. Bao dung gợi lên ư một con người khách quan với sự thông cảm rộng răi để không có một ứng xử đối lại xấu, ác, nghịch.

Như vậy, bao dung có nguồn gốc từ ḷng "nhân" : nhân tài, nhân ái, nhân đạo, nhân văn. Nhân văn là yêu con người thực sự hiểu biết số phận của mỗi con người: "Thương người như thể thương thân", mới nảy sinh được bao dung.

Tuy nhiên, người có ḷng bao dung chân chính bao giờ cũng nghiêm khắc với ḿnh, rộng răi độ lượng với kẻ khác, tha thứ nhiều cho người mà không tha thứ cho ḿnh. Tất cả những vấn đề trên thuộc nội hàm của khái niệm bao dung cần được h́nh thành và giáo dục ngay từ nhỏ - từ trong nhà trường cho học sinh bằng gương cư xử của thầy cô giáo đối với chúng.

2.3-Tạo điều kiện cho trẻ bộc lộ điều thiện, loại bỏ điều ác:

Thiện và ác là một cặp phạm trù đối lập nhau trong mọi thời đại, mặc dù quan niệm về nó có thể thay đổi hoàn cảnh lịch sử cụ thể của các quốc gia, dân tộc khác nhau. Thiện và ác cũng là những phạm trù cơ bản làm ranh giới hay là thước đo đời sống đạo đức của mọi các nhân.

Ngay từ thờ cổ đại, nhiều nhà tư tưởng đă muốn t́m ra một số đặc tính cố định của con người để giải thích nguồn gốc ư thức, hành vi đạo đức của mọi cá nhân đang biểu hiện ra muôn h́nh, muôn vẻ và cũng phức tạp trong cuộc sống chung của xă hội. Quan niệm của các học giả cổ đại phương Đông như Khổng Tử (551 - 479 TCN) và Mạnh Tử (372 - 289 TCN " nhân chi sơ tính bản thiện" cho rằng con người sinh ra đă mang bản chất, mầm mống của cái "thiện". Người ta không ai là không thiện cũng như nước không lúc nào là không chảy xuống chỗ trũng. Trái với Khổng Tử và Mạnh Tử, Tuân Tử (289 - 238 TCN) cho rằng, tính người ta vốn ác. Tính là cái ta không thể làm ra được, nhưng có thể hóa đá được. Rơ ràng các quan niệm trên đều cho thiện và ác là những thuộc tính bản chất của con người từ lúc mới sinh ra mang tính chất thiên nhiên, tiền định.

Không có quan niệm thiện ác nào là vĩnh viễn với mọi thời đại, đúng với mọi giai cấp, đúng với mọi hoàn cảnh cụ thể. Cái thiện theo nghĩa tổng quát chính là cái tốt đẹp, biểu hiện ḷng nhân ái của con người trong đời sống hàng ngày mà ai cũng mong muốn. Đó cũng chính là những hành vi thể hiện lợi ích của cá nhân phù hợp với yêu cầu và sự tiến bộ xă hội. V́ thế, cái thiện cơ bản nhất là phải giải phóng con người ra khỏi sự áp bức, bóc lột, mọi sự đau khổ bất hạnh trong đời sống chung của xă hội cũng như đời sống riêng của từng người, từng gia đ́nh. V́ thế, cái thiện không phải là cái thiện của ư thức mà là cái thiện của hiện thực. Hiện nay chúng ta đang phấn đấu để có một xă hội trong đó dân giàu, nước mạnh, xă hội dân chủ,công bằng, văn minh hoặc trong phạm trù gia đ́nh "con hơn cha là nhà có phúc" vợ chồng con cái thương yêu nhau là điều hạnh phúc, con cái có hiếu đó là sự thể hiện ḷng nhân ái-t́nh thương, là cái thiện lớn lao nhất. Cái thiện ấy phải được nuôi dưỡng h́nh thành từ nhỏ. Nó không phải là cái con người sinh ra đă có sẵn mà là sự rèn luyện củng cố hàng ngàn năm nghĩa là phải qua hoạt động giao tiếp mới có ḥa đồng cảm xúc giữa con người với con người. Khi có cảm xúc-rung cảm, giữa con người với nhau tất sẽ có điều thiện, cái thiện.

Các giá trị đạo đức tập thể làm thành cái thiện.

Giá trị đạo đức : Tính chất thuần túy xă hội của khái niệm thiện ác là ở chỗ đó chính là ở chỗ đó chính là những phán xét chê hoặc khen của cộng đồng và các thành viên của nó. Các định nghĩa cái thiện như là cái ǵ đóng góp vào lợi ích chung của cộng đồng chắc chắn sẽ bị nhiều người chê là quá đơn giản, thế nhưng liệu có cách nói nào sát với nghĩa thông dụng hơn không?

Có một sự phân biệt rạch ṛi giữa lợi ích của cá nhân của gia đ́nh với phúc lợi của toàn thể cộng đồng do những cá nhân và gia đ́nh ấy hợp lại mà thành. Những ai đặt lợi ích cộng đồng lên trên hết và đem cuộc sống riêng của ḿnh ra phụng sự cho cuộc sống chung của xă hội th́ sẽ được coi là có đạo đức cao. Những lợi ích của cá nhân trùng với những lợi ích xă hội của các thành viên khác, của nhóm của cộng đồng đều coi là tốt. Đây chính là bản tính có lương tri của con người. Nói như vậy có nghĩa là phải qua hoạt động giao tiếp mới có ḥa đồng cảm xúc giữa con người với con người.

V́ vậy, trong cuộc sống gia đ́nh cha mẹ nào cũng yêu thương con, nhưng không nên cưng chiều quá mức làm cho nó nghĩ là ḿnh đang là "trung tâm vũ trụ" muốn ǵ th́ được ấy, muốn làm ǵ th́ làm. Như vậy, điều ác sẽ xảy ra và bi kịch gia đ́nh sẽ đến.

Muốn dạy con làm điều thiện, gặp phải đứa con ngang bướng, cạn nghĩ liệu có nên thách đố với nó không? V́ tuổi trẻ bồng bột và cũng ngông cuồng và một khi điều ác xảy ra tất kéo theo bi kịch gia đ́nh.

Chẳng hạn, trong t́nh huống có đứa con hư đốn, cần b́nh tĩnh lấy t́nh yêu thương tấm ḷng bao dung của người cha để cứu vớt con, bởi v́ thực tế cho thấy, không nên đuổi ngựa bằng roi mà nên đuổi ngựa bằng lúa mạch, nhất là đối với những con ngựa bất kham.

Do vậy, trong môi trường học đường nói riêng và trong xă hội nói chung cần phải xác định thái độ khi nh́n thấy cái ác, đừng đắn đo và đừng tính toán cho dù đó là người thân, là đứa con ḿnh đứt ruột đẻ ra. Mà cần đấu tranh chống lại cái ác hay là bỏ qua? Lúc đó bố mẹ,tháy cô giáo cần b́nh tĩnh chín chắn hành động theo mệnh lệnh của trái tim và lương tâm. Những t́nh cảm cao thượng chính là lính gác trung thành của lương tâm. Một khi con người c̣n là lương tâm là c̣n điều thiện cho dù nhỏ nhoi. Người xưa đă nói: "Tư tưởng đi vào tâm hồn chúng ta qua những cánh cửa của t́nh cảm". Sự thật đó là một quy luật, đóng vai tṛ rất lớn trong việc giáo dục. Tuy nhiên, dù cho những cánh cửa tâm hồn chúng ta có mở rộng đến thế nào cũng không có ǵ lọt vào đấy được, nếu như con người, không sống một cuộc sống tŕ tuệ phong phú Nói một cách h́nh ảnh, t́nh cảm cần một thứ thức ăn nhiều chất. Thứ thức ăn đó chính là ư nghĩa, là tư tưởng. Thiếu sự suy nghĩ nghiền ngẫm, xét đoán, t́nh cảm sẽ biến thành điều nhỏ mọn. Trong việc giáo dục thái độ đối với cái ác, mối quan hệ qua lại giữa ư nghĩa và t́nh cảm đóng vai tṛ đặc biệt quan trọng. Những rung động đầu tiên của một tâm hồn trọng danh dự mà chúng ta đang nói ở đây chỉ có thể trở thành nguồn ư chí độc đáo khi mà sự suy nghĩ luôn luôn làm cho người ta phải băn khoăn, khi mà một sự việc nhỏ trong cuộc sống gợi lên cho người ta một sự suy nghĩ lớn trong cuộc đời. Đạo lư của việc giáo dục người công dân chân chính là ở chỗ: dạy cho con người biết nhận thấy và cảm thấy cái ác ở bên cạnh ḿnh, biết đứng lên chống lại cái ác đó một cách dũng cảm và vô điều kiện. Đồng chí Lê Duẩn trong cải cách giáo dục đă nói: "Ngay từ nhỏ cần phải dạy cho trẻ có miếng bánh biết chia cho bạn v́ đó là mầm mống của điều thiện".

Muốn làm được điều đó không nên cho rằng người thày được phép dạy dỗ,giáo dục, có uy quyền đối với học tṛ. Lúc nào cũng bắt học tṛ phải nghe, phải làm theo ư ḿnh. Nhiều thầy cô giáo làm mất cả sự ngây thơ, tự do của học sinh, thậm chí học tṛ cái nghĩ ǵ về thày của ḿnh, nhiều thày cô giáo không cần quan tâm tới điều đó. Họ cho họ làm thầy là có quyền tối thượng và mọi việc họ nghỉ họ nói, họ làm đều là đúng cả. Thực ra, kết quả của toàn bộ việc giáo dục phần lớn phụ thuộc vào tính chất mối quan hệ giữa học tṛ với người thày. Trẻ em có óc quan sát khá tinh vi. Các em nh́n rơ và nghe thấy hết. Càng lớn các em càng đánh giá sâu sắc và có ư thức hơn tư cách và tính nết của thày cô, quan hệ giữa những người thầy với nhau và với những người khác. Học tṛ có cách biểu hiện t́nh yêu thương thầy cô riêng mà người lớn không phải  lúc nào cũng hiểu hết.

Có chuyện tưởng là b́nh thường như muôn ngàn chuyện đă gặp, đă nghe hàng ngày. Song, qua việc làm của học tṛ chắc đă làm thầy cô giáo không thể coi thường suy nghĩ và t́nh cảm của học tṛ. Là những người làm thầy nên hiểu: Giữa người thầy và học tṛ đâu chỉ có t́nh thầy tṛ mà c̣n có cả t́nh bạn - mặc dù là t́nh bạn đặc biệt. V́ vậy, thầy cô giáo cần b́nh tâm và hăy lắng nghe, cảm nhận, tôn trọng những suy nghĩ t́nh cảm của các em. Bởi lẽ, trẻ em tư duy bằng h́nh thù, màu sắc âm thanh và bằng cảm xúc nói chung. Một sự chăm sóc nhường nhịn, hy sinh của người thầy sẽ để lại ấn tượng trong tâm tư t́nh cảm, ḷng biết ơn đối với đứa trẻ. Nhưng một nỗi buồn, sự vô t́nh, sự xúc phạm của người thầy, đối với  chúng c̣n để lại ấn tượng trong tâm hồn trẻ sâu sắc hơn. Bởi niềm vui có thể qua đi nhưng nỗi buồn sự tủi hờn vẫn theo ta năm tháng. Trẻ em có những suy nghĩ, t́nh cảm, cách biểu hiện của nó thể hiện ḷng tôn trọng, biết ơn đối với thầy cô đôi lúc người lớn chúng ta vô t́nh hay hữu ư không nhận thấy điều ấy.

Ḷng nhân ái-t́nh thương với con người, với bạn bè, đồng chí, nhân loại trước hết phải thể hiện chính từ trong học đường: t́nh thầy tṛ, t́nh bạn bè của ḿnh. Nếu từ nhỏ học tṛ không biết yêu thương, kính trọng thầy cô, ông bà, cha mẹ, anh chị em, chắc chắn khó có t́nh yêu thương với bạn bè, đồng chí, đồng bào, đồng nghiệp.

Đôi khi v́ một lư do nào đó, người lớn chúng ta thường che đậy t́nh cảm, suy nghĩ của ḿnh. Song, trẻ em không thế, v́ bao giờ nó cũng thể hiện những t́nh cảm trực tính của ḿnh: vô tư, chân thật, hồn nhiên, trung thành và rất đỗi ngây thơ. Do vậy nhiều khi chính những đứa con ngoan, tṛ giỏi tạo nên cha mẹ, thầy cô giáo tốt.

Bởi v́, thiện và ác ở tuổi thơ rất rơ ràng, chính xác không một chút mơ hồ. Ở tuổi thơ hoặc là yêu, hoặc là ghét; hành động hoặc là đúng hoặc là sai chứ không có trạng thái trung gian. Tuy chưa có kinh nghiệm và kiến thức nhưng ít nhất th́ trực giác cũng đă dứt khoát đối với cái đẹp, cái xấu, thành thật và giả dối.

Kiến thức rộng răi và cảm xúc sâu lắng không phải là bao giờ cũng chung sống ḥa b́nh ở tuổi thơ. Những tṛ chơi, những ṭ ṃ, những điều tưởng tượng, những sự quan tâm, những câu chuyện của trẻ con nếu như người lớn không hủy hoại quá sớm cái không khí đặc biệt ấy, th́ chính trong đó sẽ nảy sinh sự phong phú sau này của đời sống tinh thần. Nếu như người lớn hiểu ra, biết đánh giá và động viên cái lăng mạn trong sạch trong giai đoạn của tuổi thơ th́ như vậy chính họ đă làm rất nhiều cho hạnh phúc của đứa trẻ.

T́nh yêu và sự gắn bó với mọi người, với động vật, với thiên nhiên, t́nh cảm đầu tiên về bạn bè, và đồng chí, sự thận trọng đối với việc tốt, tính ham hiểu biết không bao giờ chán. Đó là tất cả những đức tính, cần phải trang bị cho thế giới tinh thần của trẻ em, làm phát triển tư duy và tư tưởng của chúng.

Đúng là có một số người c̣n giữ lại được trong ḿnh từ tuổi thơ cách nh́n và vẻ đẹp, những cảm xúc tươi mát. Nhưng chỉ có người nào có tâm hồ trẻ trung mới biết được như hồi c̣n thơ hân hoan và sửng sốt trước cái huyền bí của trời chiều và cảnh hoàng hôn trên đường phố, mới nhận thấy những cánh chim bay lượn trên nền mây sáng lạn, mới cảm thấy được mùi thơm của cây quả và hơi ấm của lá rừng dưới ánh mặt trời. V́ vậy, tuổi thơ không giả tạo, t́nh cảm thật là tuyệt vời: cười khi đọc truyện vui, khóc khi đọc truyện buồn. Thật là hạnh phúc nếu ai giữ lại được suốt đời ḿnh những trực tính của t́nh cảm.

 

3-Đề nghị :

Môn Đạo đức ở bậc tiểu học, môn Giáo dục công dân ở bậc phổ thông, đều phải được soạn thảo một chương tŕnh hoàn chỉnh hơn và trong bài giảng giáo viên phải khai thác ư tưởng hợp lư. Song song với bài học tại các trường, nên chăng cần phát động những phong trào "gương hiếu thảo", "nhân cách, nghĩa cử đẹp", bên cạnh những giải thưởng "gương học tốt", giải thưởng "Lê Quư Đôn". Việc đầu tiên mà các ư kiến đề cập đến là "mỗi thầy cô là một tấm gương sáng cho học sinh  noi theo",mỗi thành viên trong nhà trường phải "Sống có trách nhiệm", phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đ́nh và xă hội. Phải biểu dương, khen thưởng và kỷ luật thích đáng với ư thức đạo đức của các em trong từng trường hợp cụ thể./.

 

                                               

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1-Hồ Chí Minh: Bàn về công tác giáo dục.NXB Sự Thật-Hà Nội,1977.

2-Bôgiôvich:Nhân cách và h́nh thành nhân cách trẻ.Tài liệu dịch,Tâm lư giáo dục,Hà Nội.1981.

3-Lê Duẫn-Trường Chinh-Phạm Văn Đồng-Tố Hữu: "Thấu suốt đường lối của Đảng,đưa sự nghiệp giáo dục tiến lên mạnh mẽ vững chắc".NXB Sự Thật -Hà Nội.1978

4-Lê Thị Bừng:Gia đ́nh-trường học đầu tiên của ḷng nhân ái-NXB Giáo dục-Hà Nội.1998.

5-Người phụ nữ và gia đ́nh Việt Nam hiện nay.Viện Khoa học xă hội Việt Nam,Trung tâm nghiên cứu kho học về phụ nữ.NXB Khoa học xă hội-Hà Nội 1993.

6-Tạp chí cộng sản .Số 779(9-2007)

 

 

********