NHỮNG NGUYÊN NHÂN TỪ PHÍA NHÀ TRƯỜNG DẪN TỚI T̀NH TRẠNG NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TP. HỒ CHÍ MINH

 

TS.  TRẦN THỊ HƯƠNG – Khoa Tâm lư – Giáo dục học

                        Trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh

 

 

 

 

      1. Đặt vấn đề

     Trong quá tŕnh phát triển của đất nước, mặt trái của nền kinh tế thị trường và tác hại của các tệ nạn xă hội đă làm phát sinh t́nh trạng một bộ phận người chưa thành niên (NCTN) vi phạm pháp luật, làm đau đớn và nhức nhối cho gia đ́nh và xă hội. Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) là một trong những trung tâm phát triển kinh tế - văn hóa - xă hội lớn nhất của cả nước. Trên con đường đổi mới và phát triển, TP. HCM cũng đang đối mặt với vấn đề NCTN vi phạm pháp luật đang ngày càng diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng và đa dạng về mức độ, tính chất vi phạm. Trong một đề tài nghiên cứu gần đây về t́nh h́nh tội phạm người chưa thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2005 [1] chúng tôi đă tiến hành nghiên cứu hệ thống nguyên nhân của t́nh trạng NCTN vi phạm pháp luật trên địa bàn TP. HCM, trong đó có những nguyên nhân xuất phát từ phía nhà trường.

 

      2. Những nguyên nhân từ phía nhà trường dẫn tới t́nh trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật ở TP. Hồ Chí Minh

      Nhà trường là chiếc nôi thứ hai sau gia đ́nh góp phần quan trọng trong việc h́nh thành và phát triển nhân cách trẻ. Đối với NCTN, quá tŕnh học tập, rèn luyện trong nhà trường phổ thông là giai đọan chuẩn bị những phẩm chất và năng lực cần thiết để họ thích ứng với cuộc sống lao động sau này. Tuy nhiên một bộ phận NCTN lại có sự phát triển lệch lạc về đạo đức, nhân cách và đi vào con đường phạm pháp. Khảo sát ư kiến đánh giá của 162 cán bộ ở các cơ quan chuyên trách công tác pḥng chống NCTN vi phạm pháp luật ở TP. HCM về nguyên nhân từ phía nhà trường theo 4 mức độ và cho điểm tương ứng (Rất cơ bản/3 điểm, cơ bản/2 điểm, ít cơ bản/1 điểm, không cơ bản/0 điểm) chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau:

Bảng 2.1.  Đánh giá của cán bộ chuyên trách về nguyên nhân từ phía nhà trường

TT

Nguyên nhân

Mức độ (%)

ĐTB

RCB

CB

It

Kh

1

Thiếu sự phối hợp hiệu quả giữa nhà trường - gia đ́nh – xă hội

38.3

46.9

13.0

1.9

2.22

2

Chú trọng dạy chữ, xem nhẹ công tác giáo dục đạo đức

33.3

43.2

21.0

2.5

2.07

3

Buông lỏng việc giáo dục, quản lư học sinh cá biệt

28.4

47.5

21.0

3.1

2.01

4

Chương tŕnh quá tải làm học sinh yếu chán học, bỏ học

19.1

38.9

38.3

3.7

1.73

5

Thầy cô thiếu thông cảm, thiếu công bằng, định kiến

18.5

39.5

37.7

4.3

1.72

 

     Từ kết quả thống kê ở bảng trên chúng tôi nhận thấy có 85.2% ư kiến cho rằng “thiếu sự phối hợp hiệu quả giữa nhà trường – gia đ́nh – xă hội” trong công tác giáo dục học sinh là nguyên nhân cơ bản nhất từ phía nhà trường. Tại sao đây lại là nguyên nhân thuộc về phía nhà trường trong khi đề cập đến cả ba môi trường giáo dục? Theo chúng tôi, công tác giáo dục đối với NCTN là trách nhiệm của cả nhà trường, gia đ́nh, xă hội và cần có sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục này. Tuy nhiên, trong sự phối hợp đó, nhà trường đóng vai tṛ chủ đạo, v́ vậy khi nói đến “thiếu sự phối hợp hiệu quả” giữa ba môi trường giáo dục th́ trách nhiệm trước hết thuộc về phía nhà trường. Thực tiễn giáo dục cho thấy nhận thức về sự phối hợp nhà trường - gia đ́nh - xă hội chưa đúng. Nhà trường th́ chỉ tập trung cho chất lượng học tập, xem nhẹ giáo dục đạo đức, dẫn đến khi học sinh hư hỏng th́ đổ lỗi cho gia đ́nh không quan tâm và xă hội th́ quá nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Một số gia đ́nh xem nhà trường là môi trường giáo dục duy nhất cho trẻ, v́ vậy trẻ hư th́ đổ lỗi hoàn toàn cho nhà trường. Các lực lượng xă hội lại luôn kêu ca là nhà trường, gia đ́nh chưa có giải pháp cho giáo dục nên đưa ra xă hội nhiều “phế phẩm”... Việc đổ lỗi cho nhau của nhà trường - gia đ́nh - xă hội xuất phát từ sự phối hợp quá lỏng lẻo, chỉ là h́nh thức, là hiện tượng trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Xét về phía nhà trường, công tác phối hợp với gia đ́nh và xă hội chưa được đầu tư chiều sâu. Trong các trường học cũng đă thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh ṭan trường, Ban đại diện cha mẹ học sinh từng lớp, nhưng họat động của các tổ chức này mang tính h́nh thức hoặc có họat động th́ chỉ tập trung vào một số nội dung nhằm hỗ trợ nhà trường về các điều kiện vật chất. Giáo viên chủ nhiệm đóng vai tṛ ṇng cốt trong sự phối hợp với gia đ́nh và nhà trường, nhưng thực chất v́ nhiều lư do khác nhau mà giáo viên chủ nhiệm chưa thực sự nhiệt t́nh và có trách nhiệm đối với công việc này, chưa có sự liên hệ chặt chẽ với gia đ́nh và thống nhất với gia đ́nh về nội dung, phương pháp giáo dục. Có những học sinh trong suốt quá tŕnh học tập ở trường đă có những biểu hiện của học sinh cá biệt nhưng gia đ́nh không hề hay biết và nhà trường cũng không phối hợp với gia đ́nh để quản lư, giáo dục. V́ vậy học sinh ngày càng dấn sâu vào hư hỏng và đi đến phạm pháp...

     Hai nguyên nhân tiếp theo từ phía nhà trường cũng được nhiều ư kiến của cán bộ trong mẫu khảo sát thống nhất khẳng định là nhà trường “chú trọng dạy chữ, xem nhẹ công tác giáo dục đạo đức”, và “buông lỏng việc quản lư, giáo dục học sinh cá biệt” . Chức năng của nhà trường là giáo dục ṭan diện nhân cách cho học sinh, tuy nhiên các nhiệm vụ giáo dục ṭan diện ở nhiều trường chưa được thực hiện đồng bộ, mới chỉ chú trọng “dạy chữ” mà xem nhẹ việc “dạy người”. Đa phần các trường mới chỉ làm được chức năng là nơi cung cấp tri thức qua sách vở cho học sinh, c̣n việc quản lư, giáo dục học sinh về đạo đức, lối sống c̣n nhiều bất cập và hạn chế, chưa được chú trọng đúng mức. Ở các trường trên địa bàn TP. HCM, ng̣ai họat động dạy học trên lớp, nhà trường rất ít tổ chức các họat động giáo dục ng̣ai giờ lên lớp cho học sinh và nếu có tổ chức cũng nặng về h́nh thức. Điều đó có nguyên nhân là hiện nay học sinh ở thành phố đang quá tải về giờ học, ng̣ai giờ học chính khóa học sinh phải học thêm dưới nhiều h́nh thức khác nhau. V́ vậy phần lớn thời gian trong ngày của học sinh phải dồn cho học tập, thời gian vui chơi, giải trí của học sinh rất ít. Chính sự quá tải trong học tập đó đă khiến cho nhiều học sinh học yếu hay trung b́nh dễ bi quan, chán nản, chây lười học tập, kết quả học tập sút kém dẫn đến bỏ bê học tập hoặc bỏ học...Việc bỏ học dẫn đến t́nh trạng học sinh có tŕnh độ văn hóa thấp lại tạo xuất phát điểm cho những hành vi phạm pháp. Kết quả khảo sát ở bảng 2.1 trên cho thấy có 58.0% ư kiến cán bộ được khảo sát đồng ư yếu tố “chương tŕnh quá tải làm học sinh yếu chán học, bỏ học” là một trong các nguyên nhân dẫn đến t́nh trạng NCTN vi phạm pháp luật ở mức từ “cơ bản” đến “rất cơ bản” .

     Khảo sát về tŕnh độ học vấn của 197 học viên ở 2 Trung tâm giáo dục dạy nghề thiếu niên TP. HCM cho thấy tỉ lệ học viên chưa biết chữ là 5.6%, lớp 1 – 5 chiếm 26.9%, lớp 6 – 9 chiếm 60.9%, lớp 10 – 12 chỉ chiếm 6.6%, trong khi đó độ tuổi học viên từ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm 83.2%. Như vậy có một tỉ lệ học viên nhất định đă bỏ học trước khi vào Trung tâm ngay từ cấp tiểu học và trung học cơ sở. Việc trốn học, chán học, bỏ học là xuất phát điểm của những hành vi sai trái của học sinh nhưng đă không được quan tâm hạn chế, khắc phục.

     Phần lớn NCTN đi vào con đường vi phạm pháp luật không phải một cách ngẫu nhiên mà trước đó đă có một quá tŕnh phát triển lệch “chuẩn” ngay trong thời gian đi học ở nhà trường phổ thông. Những học sinh này thường gọi chung là “học sinh cá biệt” (trẻ chưa ngoan, trẻ hư, trẻ khó giáo dục, học sinh chậm tiến…) là những học sinh có những hành vi sai lệch so với các chuẩn mực xă hội, nhưng hành vi sai lệch đó lặp đi lặp lại nhiều lần có tính hệ thống và tương đối ổn định. Những biểu hiện của học sinh cá biệt thường là:

     - Thiếu ư thức tổ chức kỷ luật

     - Kết quả học tập yếu kém, trốn học, bỏ học

     - Thái độ vô lễ, thiếu tôn trọng thầy cô, người lớn, không vâng lời cha mẹ

     - Gian dối, nói tục, chửi bậy, chây lười trong các hoạt động tập thể

     - Tác phong sinh hoạt bê tha, la cà hàng quán, ngỗ ngược, ăn chơi, đua đ̣i, quậy phá, chống đối, ngổ ngáo, tham gia các băng nhóm...

     - Sống theo kiểu phiêu lưu mạo hiểm, anh hùng cá nhân, suy tôn “thủ lĩnh”, dễ bị kích động, manh động, không thích lư luận, bảo vệ chân lư bằng “nắm đấm”...

     Qua việc xác nhận những lỗi thường mắc phải khi c̣n học ở nhà trường phổ thông của 197 học viên ở 2 Trung tâm giáo dục dạy nghề thiếu niên TP. HCM, chúng tôi nhận thấy phần lớn các em đều có những biểu hiện của học sinh cá biệt ở các mức độ khác nhau. Kết quả thể hiện ở bảng 2.2. sau đây:

 

Bảng 2.2. Những lỗi thường mắc phải của NCTNPP  khi c̣n học ở phổ thông

TT

Lỗi

Mức độ (%)

ĐTB

RN

N

IT

KH

1

Thường xuyên vi phạm nội quy, nế nếp của lớp, trường

27.9

40.6

9.6

21.8

1.74

2

Không thuộc bài, không chuẩn bị bài

23.4

36.5

21.8

18.3

1.64

3

Hút thuốc, uống bia rượu, cờ bạc

24.4

29.4

18.8

27.4

1.50

4

Chửi thề, nói tục, đánh lộn, quậy phá

17.8

38.6

19.8

23.9

1.50

5

Trốn học, nghỉ học không phép

18.3

32.5

24.4

24.9

1.44

6

Học yếu kém, ở lại lớp, bỏ học

14.7

36.5

19.3

29.4

1.36

7

Vô lễ với thầy cô, cha mẹ, người lớn

11.7

41.1

13.7

33.5

1.30

 

     Những lỗi mà học viên thường mắc phải trong quá tŕnh học tập ở trường phổ thông ở bảng trên đều thể hiện ở mức “nhiều” chứng tỏ các em đă có những hành vi sai lệch một cách thường xuyên và hệ thống nhưng đă không được nhà trường giáo dục để sửa chữa, khắc phục. Nh́n chung NCTN vi phạm pháp luật mang đầy đủ các trạng thái, đặc điểm tâm lư của học sinh cá biệt nhưng những hành vi bất thường thể hiện ở mức độ và cường độ đậm nét hơn, có tính ổn định hơn. V́ vậy nếu những biểu hiện của học sinh cá biệt nếu không được phát hiện và ngăn ngừa th́ nhất định xu hướng tiêu cực ngày càng phát triển và vượt khỏi “ngưỡng hư”, dấn sâu vào con đường phạm pháp.

     Rơ ràng học sinh cá biệt trong nhà trường chỉ là một bộ phận nhỏ nhưng giáo dục những học sinh này là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường. Tuy nhiên đây là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, đ̣i hỏi nhiều thời gian, công sức nên nhiều trường đă buông lỏng và thiếu quan tâm đầu tư thích đáng, chưa đặt vấn đề giáo dục học sinh cá biệt, học sinh hư vào đúng vị trí của nó ngay từ công tác quản lư giáo dục đến quá tŕnh tác động giáo dục. Giáo dục của nhà trường mới dừng lại mức độ chung cho tất cả học sinh mà chưa đi sâu đi sát đặc điểm từng học sinh cá biệt để hiểu rơ nguyên nhân và t́m biện pháp tác động phù hợp. V́ vậy nhiều học sinh yếu kém về học tập, đạo đức ngày càng sa sút hơn, chán nản hơn, bỏ học chơi bời lêu lổng, bị bạn bè xấu rủ rê lôi kéo đi vào con đường hư hỏng. Nhiều trường chưa có những biện pháp đúng đắn và hiệu quả để giáo dục học sinh cá biệt nên thông thường khi một học sinh khó giáo dục, hư đốn... thường bị nhà trường kỷ luật, đuổi học - đó là cách làm đơn giản mà không giải quyết triệt để vấn đề. Những học sinh cá biệt với một tŕnh độ hiểu biết thấp, những phẩm chất tâm lư xấu chiếm ưu thế trong cấu trúc nhân cách, nếu bị đẩy khỏi môi trường giáo dục của nhà trường và gia đ́nh th́ họ càng dễ dàng tiêm nhiễm thói hư tật xấu khác ng̣ai xă hội và đi vào con đường phạm pháp. Đối với học sinh cá biệt, sự không phù hợp giữa tŕnh độ phát triển cá nhân so với các chuẩn mực được thiết kế trong mục tiêu giáo dục nếu không kịp thời có biện pháp giải quyết cũng tạo tiền đề cho sự hư hỏng của NCTN.

     Công tác giáo dục học sinh cá biệt có những nét đặc thù về mục đích, nội dung, nguyên tắc, phương pháp giáo dục. Tuy nhiên, một bộ phận giáo viên - nhà giáo dục trong các nhà trường thiếu kinh nghiệm giáo dục, không được trang bị đầy đủ về kiến thức, kĩ năng sư phạm nên dễ giải quyết các t́nh huống giáo dục theo cảm tính dẫn đến những hậu quả sai lầm. Kinh nghiêm cá nhân, sự non kém về sư phạm, các sai lầm về nghệ thuật giáo dục, thái độ ban ơn, trịnh thượng, áp đặt, sự trách phạt quá nghiêm khắc hay t́nh thương không đúng... tất cả đều góp phần đẩy NCTN đi vào con đường vi phạm pháp luật. Mặc dù nguyên nhân “thầy cô thiếu thông cảm, thiếu công bằng, định kiến” được xếp thứ 5 trong số các nguyên nhân từ phía nhà trường dẫn đến t́nh trạng NCTN vi phạm pháp luật, nhưng mức độ ảnh hưởng cũng được ghi nhận ở mức “nhiều” (ĐTB 1.72)...

     Như vậy có một mối liên hệ nhân quả  giữa công tác giáo dục đạo đức nói chung, công tác giáo dục học sinh cá biệt nói riêng ở nhà trường phổ thông với t́nh trạng NCTN vi phạm pháp luật ở TP. HCM.

3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong nhà trường phổ thông

     - Nhà trường cần thực hiện đồng bộ, đảm bảo tính cân đối, hài ḥa trong chương tŕnh giáo dục toàn diện, đổi mới phương pháp dạy học – giáo dục các môn học, đặc biệt là các môn đạo đức, giáo dục công dân... các họat động giáo dục ng̣ai giờ lên lớp.

     - Tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, ư thức tuân thủ pháp luật cho thanh thiếu niên, coi trọng giáo dục định hướng giá trị đúng đắn... các hành vi xă hội tích cực, giáo dục kỹ năng sống để chuẩn bị cho học sinh khả năng đề kháng và thích ứng trong môi trường xă hội đầy phức tạp và biến động.

     - Chú trọng và nâng cao hơn nữa công tác giáo dục học sinh cá biệt, xem đây là một họat động vô cùng quan trọng trong công tác giáo dục đạo đức của nhà trường. Muốn vậy:

+ Đội ngũ những nhà quản lư giáo dục, giáo viên, giáo viên chủ nhiệm phải có nhận thức đầy đủ, sâu sắc tầm quan trọng của họat động giáo dục cá biệt cũng như tính chất phức tạp, khó khăn, lâu dài của họat động này, từ đó có đủ phẩm chất và năng lực sư phạm để thực hiện họat động này.

+ Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt trong nhà trường phổ thông phải được thực hiện một cách chuyên biệt.

+ Xây dựng và thực hiện mô h́nh tổ chức giáo dục học sinh cá biệt  trong nhà trường phổ thông

     Theo chúng tôi, trong nhà trường phổ thông cần thiết phải xây dựng mô h́nh tổ chức giáo dục học sinh cá biệt  (học sinh chưa ngoan, học sinh hư, khó giáo dục, chậm tiến…) là những học sinh có những hành vi sai lệch so với các chuẩn mực xă hội qui định, nhưng hành vi sai lệch đó lặp đi lặp lại nhiều lần có tính hệ thống và tương đối ổn định. Phác thảo về mô h́nh đó như sau:

 

 

3.1) Cơ cấu tổ chức giáo dục học sinh cá biệt trong nhà trường bao gồm các thành phần:

     - Đại diện Ban Giám hiệu nhà trường (Phó Hiệu trưởng): là người thay mặt Hiệu trưởng, Hội đồng giáo dục điều hành chung ṭan bộ kế họach giáo dục, đặc biệt là giáo dục học sinh chưa ngoan trong ṭan trường.

     - Giáo viên chủ nhiệm lớp: là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng giáo dục và cha mẹ học sinh về sự phát triển nhân cách ṭan diện của từng học sinh, trực tiếp giáo dục học sinh chưa ngoan trong một lớp.

     - Tổ chức tư vấn học đường: bao gồm một số giáo viên có uy tín cao, có nhiều kinh nghiệm giáo dục, các nhà tư vấn tâm lư – giáo dục... góp phần hỗ trợ cho Phó hiệu trưởng và giáo viên chủ nhiệm giáo dục lại học sinh.

     - Tập thể sư phạm bao gồm những giáo viên khác trong trường ng̣ai giáo viên chủ nhiệm như giáo viên bộ môn, cán bộ phụ trách Đ̣an, Đội... Lực lượng này góp phần hỗ trợ giáo viên chủ nhiệm và tổ chức tư vấn học đường tạo thêm sức mạnh tổng hợp tác động thống nhất đến các học sinh cá biệt.

     - Tập thể học sinh (lớp, tổ chức Đ̣an, Đội): là một tổ chức có khả năng tập hợp, thu hút học sinh trong lớp tham gia họat động giáo dục một cách thường xuyên dưới sự cố vấn, lănh đạo của giáo viên chủ nhiệm. Tổ chức này có rất nhiều khả năng để tiến hành giáo dục những học sinh chưa ngoan.

     - Ban đại diện cha mẹ học sinh: là cầu nối giữa gia đ́nh và nhà trường trong công tác giáo dục học sinh chưa ngoan

     - Các tổ chức xă hội khác ở địa phương (Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hôi khuyến học, Đ̣an thanh niên phương, xă...) có thể thực hiện các chương tŕnh trên cơ sở dựa vào cộng đồng để mở mang các điểm dịch vụ vui chơi, giải trí... thu hút học sinh tham gia các họat động bổ ích ng̣ai giờ học...

     Như vậy tổ chức giáo dục học sinh cá biệt trong nhà trường bao gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần có nhiệm vụ, chức năng cụ thể nhưng họat động theo quy định thống nhất và phối hợp nhau chặt chẽ. Trong các thành phần này, giáo viên chủ nhiệm là lực lượng ṇng cốt chịu trách nhiệm chính thiết kế và điều hành quá tŕnh giáo dục lại học sinh cá biệt trên cơ sở phối hợp với các thành phần khác.

 

3.2) Nội dung giáo dục lại

     - Giáo dục lại về nhận thức, t́nh cảm và hành vi của học sinh đối với các chuẩn mực xă hội qui định... thể hiện cụ thể qua các nội dung giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, lao động cụ thể ở nhà trường phổ thông.

     - Phê phán có phân tích các biểu hiện sai lệch trong nhận thức, t́nh cảm, hành vi của học sinh

     - Bồi dưỡng ư thức tự giáo dục, tự rèn luyện

     - Tổ chức các họat động vui chơi lành mạnh, khơi dậy các mặt tích cực trong họat động của học sinh chưa ngoan...

3.3) Tổ chức quá tŕnh giáo dục lại

     - Giai đọan 1: Lập kế họach tổ chức giáo dục lại học sinh cá biệt

+ Khảo sát nắm vững đối tượng giáo dục lại: số lượng, biểu hiện cụ thể từng học sinh cá biệt; phân lọai nguyên nhân học sinh cá biệt

+ Lập kế họach cụ thể về thời gian, nội dung, biện pháp tác động

     - Giai đọan 2: Tổ chức thực hiện kế họach giáo dục lại

+ Tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục thực hiện theo kế họach giáo dục lại đối với các đối tượng giáo dục lại

+ Kiểm tra, đánh giá thường xuyên

     - Giai đọan 3: Đánh giá

+ Đánh giá kết quả cuối cùng qua một giai đọan

+ Khen thưởng, biểu dương

+ Đề ra kế họach giáo dục tiếp theo

     Trên đây là một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông xin đóng góp cho Hội thảo.

     Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp!

 

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo

1. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố:  "Nghiên cứu t́nh h́nh tội phạm người chưa thành niên  tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2005".